ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA IN VITRO CỦA CÁC PHÂN ĐOẠN CHIẾT XUẤT VÀ HỢP CHẤT PHÂN LẬP TỪ QUẢ CÂY DỨA DẠI (PANDANUS ODORATISSIMUS L. F.)

Tóm tắt

Mục tiêu: đánh giá hoạt tính chống oxy hóa in vitro của một số phân đoạn chiết và hợp chất phân lập từ quả cây Dứa dại (Pandanus odoratissimus L. f.). Phương pháp: đánh giá tác dụng chống oxy hóa theo phương pháp loại gốc tự do (GTD) DPPH và ức chế quá trình peroxy hóa lipid (MDA) của 4 nhóm phân đoạn chiết, bao gồm n-hexan (PO-A), cloroform (PO-B), ethyl acetat (PO-C), nước (PO-D) và 4 hợp chất phân lập được từ phân đoạn chiết cloroform, bao gồm vanillin, (+)-pinoresinol, (+)-syringaresinol, (+)-medioresinol.

Kết quả: trong thử nghiệm DPPH, giá trị SC50 của các phân đoạn chiết n-hexan, cloroform, ethyl acetat, nước lần lượt là 81,24 µg/ml; 15,54 µg/ml; 19,30 µg/ml và 97,63 µg/ml, trong khi giá trị này cho các hợp chất phân lập là vanillin > 100 µg/ml, (+)-pinoresinol 7,5 µg/ml, (+)-syringaresinol 16,53 µg/ml, (+)-medioresinol 5,93 µg/ml, so với chất đối chứng dương axít ascorbic 5,93 µg/ml. Trong thử nghiệm peroxy hóa lipid (MDA), giá trị IC50 của các phân đoạn chiết lần lượt là n-hexan 66,06 µg/ml, cloroform 8,07 µg/ml, ethyl acetat 26,79 µg/ml, nước 106,43 µg/ml so với chất đối chứng dương trolox 12,01 µg/ml và các hợp chất phân lập vanillin và (+)-syringaresinol > 100 µg/ml, (+)-pinoresinol 11,04 µg/ml, (+)-medioresinol 5,82 µg/ml so với chất đối chứng dương trolox 11,06 µg/ml. Kết luận: trên mô hình thử nghiệm in vitro chống oxy hóa DPPH và peroxy hóa lipid, phân đoạn chiết cloroform và hai hợp chất lignan (+)-pinoresinol, (+)-medioresinol phân lập từ quả cây Dứa dại có tác dụng tốt nhất.

* Từ khóa: Dứa dại; Peroxy hóa lipid; Hoạt tính chống oxy hóa.

Đặt vấn đề

Gốc tự do là những nguyên tử, nhóm nguyên tử hoặc phân tử ở lớp ngoài cũng có electron không ghép đôi, dễ dàng tham gia vào phản ứng hóa học với các hợp chất như protein, lipid, carbohydrat, ADN… trong cơ thể. Điều này dẫn đến sự rối loạn, mất cân bằng quá trình sinh hóa và là nguồn gốc của sự lão hóa, là nguyên nhân chính gây ra nhiều loại bệnh về gan, tim mạch, mắt, da, hệ miễn dịch, ung thư và các bệnh thần kinh. Trong nhiều nghiên cứu khoa học, phương pháp xác định hoạt tính chống oxy hóa bằng việc thử nghiệm các hợp chất, hay dược liệu có khả năng ức chế DPPH (1,1-diphenyl2-picrylhydrazyl) và ức chế quá trình peroxy hóa lipid (thử nghiệm MDA) được coi là phương pháp nhanh chóng, ổn định, đơn giản và chính xác cao [9, 11].

Hiện nay, việc tìm ra các hợp chất có khả năng chống oxy hóa có nguồn gốc từ thiên nhiên thay thế hợp chất được tổng hợp hóa học nhằm hạn chế nguy cơ ung thư do các chất tổng hợp gây ra đang trở thành phương pháp hữu hiệu. Một số loại quả ăn dễ trồng, sử dụng như những vị thuốc quý trong chống oxy hóa (kìm hãm sự phát triển và tiêu diệt GTD) như quả Nhàu (Morindacitrifolia), Xoài (Mangifera indica), Mướp đắng (Momordica charantia) hay Dâu tây (Vaccinium corymbosum) [7].

Cây Dứa dại (Pandanus odoratissimus L. f.) thuộc họ Pandanaceae, là loại cây tiểu mộc, một lá mầm, cao từ 3 – 5 m, thân to 15 cm, lá dài rộng và có gai, quả rộng 19 cm, dài 27 cm, phân bố nhiều ở ven biển các tỉnh miền Trung [3]. Quả của loài cây này thường được sử dụng trong các bài thuốc dân gian chữa nhiều bệnh như tiểu buốt, trĩ [4]. Về thành phần hóa học, có nhiều nghiên cứu đã cho thấy chi Pandanus có các lớp chất lignan, monoterpen và sesquiterpen, alkaloid, các dẫn xuất benzofuran và axít mạch thẳng [4]. Về hoạt tính sinh học, nghiên cứu về hoạt tính chống oxy hóa từ cao chiết rễ và lá cây Dứa dại chỉ ra tác dụng hữu hiệu của hai bộ phận này [ 6]. Trong nghiên cứu trước, chúng tôi công bố kết quả phân lập và xác định cấu trúc hóa học 4 hợp chất, bao gồm một hợp chất phenolic vanillin (1) và 3 hợp chất lignan: (+)-pinoresinol (2), (+)-syringaresinol (3) và (+)-medioresinol (4), được tách từ quả của cây Dứa dại [2]. Các hợp chất với bộ khung lignan được coi là tác nhân chống oxy hóa – bảo vệ tế bào gan [5]. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiếp tục đánh giá và sàng lọc hoạt tính chống oxy hóa của phân đoạn chiết và 4 hợp chất phân lập trên từ quả Dứa dại với mục đích bổ sung nguồn dữ liệu về tác dụng của loài này trong hỗ trợ điều trị bệnh.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1. Đối tượng nghiên cứu.

* Vật liệu nghiên cứu:

– Mẫu quả cây Dứa dại (P. odoratissimus L. f.) được thu hái vào 9 – 2013 tại khu vực ven biển Lăng Cô, Thừa Thiên Huế. Mẫu nguyên liệu được nhà thực vật Ngô Văn Trại, nguyên cán bộ Viện Dược liệu, định tên khoa học. Tiêu bản số C-516 được lưu giữ tại Phòng Hoạt chất sinh học, Viện Hóa học các Hợp chất Thiên nhiên.

– Hoá chất và dụng cụ: 1,1-diphenyl-2picrylhydrazyl (DPPH), axít thiobarbituric (TBA), chất đối chứng tham khảo: axít ascorbictrolox, dimethylsulfoside (DMSO), đệm phosphat hoặc KCl, axít tricloacetic (Sigma, Duchefa), FeSO4, H2O2, đĩa Elisa, pipet, Eppendorf, máy đo OD Microplate Reader, cân phân tích và các thiết bị phụ trợ khác.

– Động vật: chuột thuần chủng dòng BALB/c khoẻ mạnh, không mắc bệnh, do
Viện Công nghệ Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cung cấp, được nuôi trong cùng điều kiện tại Phòng Thử nghiệm Sinh học, Viện Công nghệ Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Chuột được cho ăn thức ăn tiêu chuẩn và nước uống tự do.

* Tách chiết các hợp chất từ quả cây Dứa dại:

Mẫu quả cây Dứa dại (3,5 kg) được loại bỏ phần hỏng, xay nhỏ, ngâm chiết với metanol (3 x 2,5 lít) ở nhiệt độ phòng. Cô quay cất loại dung môi thu được cao tổng methanol (320 g) (PO). Cao tổng này được thêm nước cất và chiết phân bố lần lượt với các dung môi n-hexan, CHCl3, EtOAc, thu được phân đoạn chiết tương ứng PO-A (56,7 g, n-hexan), PO-B (24,4 g, clorofom), PO-C (12 g, EtOAc), còn lại là dịch nước PO-D. Phân đoạn chiết cloroform PO-B được tiến hành phân tách trên sắc ký cột silica gel pha thường với hệ dung môi rửa giải là n-hexan:etyl axetat gradient (20:1, v/v) thu được 12 nhóm phân đoạn từ PO-1B đến PO-12B. Tiếp tục phân tách các phân đoạn 5B, 9B và 11B, 12B trên bằng sắc ký cột silica gel pha thường với hệ dung môi rửa giải là n-hexan:axeton, thu được bốn hợp chất 1 (20 mg), 2 (35 mg), 3 (260 mg) và 4 (15 mg) từ các phân đoạn trên tương ứng. Các hợp chất thu được đã được xác định cấu trúc hóa học bằng phổ APCI-MS, 1H-NMR, 13C-NMR và định tên tương ứng lần lượt là vanillin (1), (+)-pinoresinol (2),
(+)-syringaresinol (3) và (+)-medioresinol (4) [2].

2. Mô hình in vitro thử tác dụng chống oxy hóa.

* Xác định khả năng loại bỏ GTD DPPH:

Tiến hành thực nghiệm theo phương pháp của Yuvaraj và CS (2013) [11] có cải tiến cho phù hợp với điều kiện phòng thí nghiệm. Mẫu thử được pha dung dịch gốc trong DMSO ở nồng độ 2 mg/ml. Sau đó pha thành dải nồng độ: 200; 100; 50; 25; 12,5 µg/ml với nước cất khử ion. Tương tự, axít ascorbic (đối chứng dương) pha với nồng độ 100; 50; 25; 12,5; 6,25 µg/ml. DPPH pha trong methanol (100%) ở nồng độ 0,25 µM. Hút 1 ml mẫu nghiên cứu đã pha ở các nồng độ vào ống thủy tinh. Mỗi nồng độ thử chất lặp lại 2 lần. Thêm 1 ml dung dịch DPPH đã chuẩn bị ở trên vào các ống đã có sẵn mẫu nghiên cứu. Ống không có mẫu thử, chỉ có 1 ml nước và 1 ml DPPH làm đối chứng âm. Ủ ở nhiệt độ phòng trong 30 phút. Xác định độ hấp thụ của dung dịch sau phản ứng tại bước sóng 517 nm trên máy đọc Elisa. Vì mẫu nghiên cứu và dung dịch DPPH đưa vào ống theo tỷ lệ 1:1, nên nồng độ mẫu nghiên cứu trong ống có DPPH sẽ giảm đi một nửa còn 100; 50; 25; 12,5; 6,25 µg/ml. Nồng độ axít ascorbic (VitC) trong ống có DPPH sẽ giảm đi một nửa còn 50; 25; 12,5; 6,25; 3,125 µg/ml. Giếng có dung môi hòa mẫu nghiên cứu và dung dịch DPPH được xem là giếng đối chứng. Giếng có sử dụng axít ascorbic là chất đối chứng tham khảo. Khả năng trung hòa GTD (Scavenging Activities – SA) sinh ra từ DPPH của mẫu thử được tính theo công thức sau:

% SA = (ODđối chứng – ODmẫu thử)*100/ODđối chứng (%).

Trong đó: ODđối chứng: độ hấp thụ tại giếng không chứa chất thử.
ODmẫu thử: độ hấp thụ tại giếng chứa chất thử.

Kết quả báo cáo bằng giá trị SC50 (Scavenging Concentration ở 50% – nồng độ trung hòa được 50% GTD của DPPH) và xác định bằng phần mềm Table Curve 2Dv4.

* Xác định khả năng ức chế quá trình peroxy hóa lipid:

Tiến hành thực nghiệm theo phương pháp của Stroev E.A và CS (1998) [9] có cải tiến cho phù hợp với điều kiện phòng thí nghiệm. Tách não chuột và nghiền đồng thể trong dung dịch đệm phosphat (pH = 7,4) theo tỷ lệ 1:10 ở nhiệt độ 0 – 4oC. Lấy 1 ml dịch đồng thể thêm vào 0,1 ml mẫu thử ở các nồng độ và 0,8 ml đệm phosphat thêm 0,1 ml hệ Penton (FeSO4 0,1 mM:H2O2 15 mM theo tỷ lệ 1:1). Ủ hỗn hợp ở 37oC trong 15 phút. Dừng phản ứng bằng 1 ml axít tricloacetic 10%. Ly tâm 12.000 vòng trong 5 phút. Lấy dịch trong cho phản ứng với 1 ml axít thiobarbituric 0,8% (tỷ lệ 2:1). Ủ ở nhiệt độ 100oC trong 15 phút. Làm lạnh và đo ở bước sóng λ = 532 nm. Trolox được sử dụng làm chất đối chứng tham khảo.

Công thức tính phần trăm hoạt tính chống oxy hoá:

HTCO (%) = [(ODC – ODT)/ODC] × 100

Trong đó: ODC: mật độ quang học của giếng chứng không có mẫu thử; ODT: mật độ quang học của mẫu thử.
Kết quả báo cáo bởi giá trị IC50 và được xác định bằng phần mềm Table Curve 2Dv4. Giá trị này càng thấp, hoạt tính khử GTD càng mạnh.

Kết quả nghiên cứu

1. Kết quả sàng lọc các phân đoạn chiết có hoạt tính chống oxy hóa in vitro theo mô hình loại bỏ GTD DPPH.

* Kết quả thử hoạt tính chống oxy hóa in vitro theo mô hình loại bỏ GTD DPPH của các phân đoạn chiết từ quả Dứa dại:

Bảng 1: Kết quả thử hoạt tính DPPH của các nhóm cao chiết.

Nồng độ (µg/ml) PO-A PO-B PO-C PO-D
100 58,62 ± 1,08 81,71 ± 0,10 83,10 ± 0,10 51,11 ± 0,30
50 34,01 ± 1,28 79,42 ± 0,00 82,13 ± 1,08 25,59 ± 0,79
25 22,25 ± 0,79 58,41 ± 1,97 10,57 ± 0,98
12,5 9,25 ± 0,49 32,34 ± 1,28 34,91 ± 0,59 4,03 ± 1,18
SC50 (µg/ml) 81,24 15,54 19,30 97,63

Hoạt tính loại bỏ GTD có sự khác biệt lớn giữa các phân đoạn chiết ở nồng độ 12,5; 25; 50 và 100 µg/ml. So sánh giá trị SC50 của cao chiết ở các phân đoạn cho thấy ở quả Dứa dại, cao chiết có tác dụng chống oxy hóa theo thứ tự PO-D < PO-A < PO-C < PO-B.
* Kết quả thử hoạt tính chống oxy hóa in vitro theo mô hình loại bỏ GTD DPPH của các hợp chất phân lập từ quả Dứa dại:

Bảng 2: Kết quả thử hoạt tính DPPH của các hợp chất phân lập.

Nồng độ (µg/ml) Chất 1 2 3 4 Axít ascorbic
100 36,10 ± 1,30 88,43 ± 0,72 77,50 ± 1,43 80,73 ± 1,17  
50 29,00 ± 0,65 79,76 ± 1,63 74,41 ± 1,11 79,94 ± 1,50 91,05 ± 0,26
25 24,53 ± 0,07 70,03 ± 0,78 65,61 ± 0,78 79,07 ± 1,30 90,51 ± 0,39
12.5 15,17 ± 1,83 55,92 ± 1,43 42,05 ± 1,24 74,64 ± 0,26 88,27 ± 0,52
6.25 4,29 ± 0,13 47,12 ± 0,33 29,55 ± 0,65 50,58 ± 1,04 51,98 ± 0,13
SC50 (µg/ml) > 100 7,50 16,53 5,93 5,93

Giá trị SC50 của hợp chất 1 – 4 lần lượt là > 100; 7,50; 16,53; 5,93 µg/ml. Như vậy, hợp chất 1 chưa thể hiện hoạt tính chống oxy hóa, hợp chất 2 – 4 đều có hoạt tính chống oxy hóa mạnh ở các nồng độ nghiên cứu. Trong đó, chất 4 có hoạt tính chống oxy hóa tương đương với chất đối chứng.

2. Kết quả sàng lọc các phân đoạn có hoạt tính chống oxy hóa in vitro theo mô hình xác định khả năng ức chế peroxy hóa lipid.

* Kết quả thử hoạt tính chống oxy hóa theo mô hình xác định khả năng ức chế quá trình peroxy hóa lipid các phân đoạn chiết từ quả Dứa dại:
Bảng 3: Kết quả thử hoạt tính chống oxy hóa thông qua ức chế peroxy hóa lipid

Nồng độ (µg/ml) PO-A PO-B PO-C PO-D Trolox
100 62,40 ± 0,44 80,95 ± 1,01 42,42 ± 1,07 45,83 ± 0,51 82,94 ± 0,42
20 25,52 ± 0,15 61,79 ± 0,17 22,95 ± 1,01 5,71 ± 0,00 60,74 ± 0,21
4 8,85 ± 1,33 43,45 ± 0,17 18,00 ± 0,32 2,86 ± 0,67 31,18 ± 0,00
0,8 1,04 ± 0,88 19,88 ± 1,52 0,61 ± 0,78 0,83 ± 0,17 16,84 ± 0,94
IC50 (µg/ml) 66,06 8,07 26,79 106,43 12,10

Giá trị IC50 của các phân đoạn chiết từ quả Dứa dại có hoạt tính ức chế quá trình peroxy hóa lipid tăng dần theo thứ tự PO-D < PO-A < PO-C < PO-B.
* Kết quả thử hoạt tính chống oxy hóa theo mô hình ức chế quá trình peroxy hóa lipid của các hợp chất phân lập từ quả Dứa dại:

Bảng 4: Hoạt tính chống oxy hóa thông qua ức chế quá trình peroxy hóa lipid của các hợp chất phân lập từ quả Dứa dại.

Nồng độ (µg/ml) Chất 1 2 3 4 Trolox
100 49,08 ± 1,23 87,83 ± 0,34 42,42 ± 1,07 86,12 ± 0,74 85,86 ± 0,23
20 24,40 ± 1,29 59,84 ± 0,45 22,95 ± 1,01 71,86 ± 0,22 61,86 ± 0,57
4 11,97 ± 0,82 35,49 ± 1,44 18,00 ± 0,32 39,66 ± 0,90 32,12 ± 0,55
0,8 1,47 ± 0,53 19,60 ± 0,46 0,61 ± 0,78 26,56 ± 0,78 13,99  ± 0,24
IC50 (µg/ml) > 100 11,04 > 100 5,82 11,06

Giá trị IC50 của chất 1 và 3 đều > 100 µg/ml, các chất này chưa thể hiện được hoạt tính ức chế quá trình peroxy hóa lipid, trong khi đó, giá trị này của hợp chất 2 và 4 lần lượt là 11,04 và 5,82 µg/ml, do đó có hiệu quả chống oxy hóa thông qua hoạt động ức chế quá trình peroxyl hóa lipid.

Bàn luận

Mô hình xác định khả năng loại bỏ GTD DPPH được sử dụng rộng rãi để sàng lọc hoạt tính chống oxy hóa của các hợp chất tự nhiên được tách chiết từ thực vật và vi khuẩn. DPPH là GTD có màu tím nhờ vào điện tử chưa ghép đôi, nhưng sau khi phản ứng với oxy nguyên tử của chất dập tắt GTD, cường độ màu tím sẽ giảm xuống. Hoạt tính chống oxy hóa của cao chiết thể hiện qua việc làm giảm màu DPPH, dẫn đến làm giảm độ hấp thu ở bước sóng 517 nm. Hiệu quả loại bỏ GTD DPPH của các phân đoạn chiết và hợp chất phân lập từ quả cây Dứa dại được trình bày trong bảng 1 và 2. Kết quả chỉ ra cao chiết có độ phân cực trung bình cloroform (15,54 µg/ml) và ethyl acetat (19,03 µg/ml) cho kết quả tốt, với giá trị SC50 < 20 µg/ml, ngược lại, cao chiết kém phân cực n-hexan (81,24 µg/ml) hay phân cực cao là cao nước (97,63 µg/ml) chưa thể hiện hoạt lực chống oxy hóa, với giá trị SC50 > 20 µg/ml [1]. Hoạt tính chống oxy hóa của lá và rễ của loài cây này được đánh giá tốt khi sử dụng cao methanol làm đối tượng thử [6]. Tương tự, hoạt tính của các hợp chất phân lập từ cao chiết cloroform chỉ ra lớp chất lignan có khả năng kết hợp và tiêu diệt GTD tốt nhất, đặc biệt (+)-pinoresinol (2) và (+)medioresinol (4) cho giá trị SC50 lần lượt là 5,93 µg/ml và 7,50 µg/ml, tương đương với chất đối chứng tham khảo axít ascorbic 5,93 µg/ml. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra sự tương đồng, hợp chất (+)pinoresinol được phân lập từ củ Sắn (Manihot esculenta) trồng ở đảo Hải Nam có khả năng chống oxy hóa tương đương với chất đối chứng tham khảo axít ascorbic [10].

Trong mô hình xác định khả năng ức chế quá trình peroxy hóa lipid, peroxy hóa lipid là một trong những sản phẩm được sinh ra trong quá trình peroxy hóa lipid màng tế bào và được coi là một chỉ số của quá trình peoxy hóa lipid. Peroxy hóa lipid khi phản ứng với thuốc thử axít thiobarbituric tạo ra phức hợp màu hồng. Hoạt tính chống oxy hóa của các phân đoạn chiết từ quả Dứa dại thể hiện qua việc làm giảm màu của phức hợp này, do làm giảm lượng peroxy hóa lipid trong mẫu dẫn đến giảm độ hấp thu ở bước sóng 532 nm. Hiệu quả ức chế quá trình peroxy hóa lipid được trình bày qua bảng 3 và 4. Kết quả cho thấy, phân đoạn chiết cloroform cho giá trị IC50 tốt nhất (8,07 µg/ml), thấp hơn cả đối chứng âm trolox IC50 12,01 µg/ml. Tương tự, theo phương pháp peroxy hóa lipid, Sanjeeva và CS đã chứng minh giá trị tiềm năng của cao chiết methanol lá (IC50 669,23 µg/ml) loài P. fascicularis (synonym of P. odoratissimus và P. odorifer) khi so sánh với chất đối chứng axít ascorbic (IC50 411,3 µg/ml) [8]. Đối với nhóm hoạt chất sạch được phân lập, vanillin (1) và (+)-syringaresinol (3) không thể hiện hoạt tính chống oxy hóa IC50 > 100 µg/ml, trong khi (+)-pinoresinol (2) và (+)-medioresinol (4) cho giá trị IC50 lần lượt là 11,04 và 5,82 µg/ml, tốt hơn chất đối chứng tham khảo IC50 11,06 µg/ml. Phân tích về đặc điểm cấu trúc, (+)-pinoresinol là hợp chất đối xứng hoàn toàn, trong khi (+)-medioresinol nhiều hơn (+)-pinoresinol một nhóm metoxy ở vị trí 5, biểu thị mối quan hệ giữa đặc tính cấu trúc và hoạt tính sinh học [2].

KẾT LUẬN

Đã đánh giá được hoạt tính chống oxy hóa của các phân đoạn chiết và chất phân lập từ quả Dứa dại trên mô hình loại bỏ GTD DPPH và mô hình ức chế quá trình peroxy hóa lipid. Kết quả cho thấy, phân đoạn chiết clorofom của quả Dứa dại có hoạt tính chống oxy hóa mạnh hơn so với các phân đoạn còn lại. Tiếp tục phân lập sắc ký cao chiết này và thử nghiệm hoạt tính chống oxy hóa theo mô hình trên, bước đầu ghi nhận tác dụng chống oxy hóa cao của hai hợp chất có bộ khung lignan (+)-pinoresinol và (+)medioresinol. Kết quả nghiên cứu chỉ ra tác dụng quý của cây Dứa dại và định hướng cho những nghiên cứu sâu hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Thị Anh, Nguyễn Thanh Bình, Hồ  Thị Cẩm Hoài, Bùi Đặng Thiên Hương, Nguyễn Thị Thanh Mai. Khảo sát thành phần hóa học và hoạt tính kháng oxy của cao chiết axetat etyl cây Vằng Trâu (Jasminum undulatum ker-gawl). Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ. 2011, 14 (2T), tr.50-57.
2. Nguyễn Mạnh Cường, Ninh Thế Sơn, Đoàn Thị Vân, Nguyễn Công Thùy Trâm, Đỗ  Thị Thảo, Phạm Quốc Sự, Nguyễn Duy Thuần. Chiết tách một số chất thuộc nhóm phenolic từ quả cây Dứa dại (Pandanus odoratissimus L. F). Tạp chí Hóa học. 2015, 53, tr.432-435.
3. Phạm Hoàng Hộ. Cây cỏ Việt Nam. NXB Y học. 2000, tập 3, tr.334.
4. Jong T.T, Chau S.W. Antioxidative activities of constituents isolated from Pandanus odoratissimus. Phytochemistry. 1998, 49 (7), pp.2145-2148.
5. Kim H.Y, Kim J.K, Choi J.H, Jung J.Y, Oh W.Y, Kim D.C, Lee S.M. Hepatoprotective effect of pinoresinol on carbon tetrachloride – induced hepatic damage in mice. Journal of Pharmacological Sciences. 2010, 112 (1), pp.105-112.
6. Londonkar R, Kamble A. Evaluation of free radical scavenging activity of Pandanus odoratissimus. International Journal of Pharmacology. 2009, 5 (6), pp.377-380.
7. Rohman A, Riyanto S, Yuniarti N, Saputra W.R, Utami R, Mulatsih W. Antioxidant activity, total phenolic, and total flavaonoid of extracts and fractions of red fruit (Pandanus conoideus Lam). International Food Research Journal. 2010, 17 (1), pp.97-106.
8. Sannjeeve, Kumar R, Padmalaxmi D, Udupa A.L, Ojeh N, Patil V, Kodancha P, Shubha H.V. Antioxidant activity of methanol extract of Pandanus fasciularis Lam. Pharmacologyonline. 2011, 1, pp.833-841.
9. Stroev et al. Determination of lipid peroxylation rate in tissue homogenate laboratory. Manual in Biochemistry. Moscow. 1998, pp.243-256.
10. Yi B, Hu L, Mei W, Zhou K, Wang H, Luo Y, Dai H. Antioxidant phenolic compounds of cassava (Manihot esculenta) from Hainan. Molecules. 2011, 16 (12), pp.10157-10167.
11. Yuvaraj P, Subramoniam A, Louis T, Madhavachandran V, Narasu M.L. Attenuation of expression of cytokines, oxidative stress and inflammation by hepatoprotective phenolic acids from Thespesia populnea Soland ex Correa stem bark. Annals of Phytomedicine.
2013, 2, pp.47-56.

Nguồn tham khảo

Nguyễn Công Thùy Trâm và ctv. ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA IN VITRO CỦA CÁC PHÂN ĐOẠN CHIẾT XUẤT VÀ HỢP CHẤT PHÂN LẬP TỪ QUẢ CÂY DỨA DẠI (PANDANUS ODORATISSIMUS L. F.). Tạp chí Y-Dược học Quân sự số 6-2017

Facebook Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *