Một số thành tựu trong lĩnh vực tạo thực vật chuyển gen

 

Các cây trồng quan trọng đã được phát triển

  • Cây ngô

Hiện nay, cây ngô đã được biến đổi gen để mang các tính trạng như kháng côn trùng và chống chịu thuốc diệt cỏ.

Dùng phôi ngô trong nuôi cấy dịch huyền phù phát sinh phôi để tái sinh các cây hữu thụ mang gen bar biến nạp. Sử dụng phương pháp bắn gen và chọn lọc bằng thuốc diệt cỏ bialaphos đã cho kết quả là mô callus phát sinh các phôi được biến nạp gen. Các cây biến nạp gen hữu thụ đã được tái sinh, ổn định di truyền và biểu hiện gen bar cùng với hoạt tính chức năng của enzyme phosphinothricin acetyltransferase quan sát được trong những thế hệ sau.

Gần đây, các kết quả biến nạp gen gián tiếp ở ngô nhờ Agrobacterium cũng đã được thông báo. Các thể biến nạp gen của dòng ngô lai gần (inbredline) A188 đã được tái sinh sau khi đồng nuôi cấy (cocultivation) giữa binary vector với phôi non. Tần số biến nạp được thông báo ở dòng A188 là khoảng 5-30%. Các thể lai thế hệ thứ nhất giữa dòng A188 và 5 dòng lai gần khác được biến nạp với tần số khoảng 0,4-5,3% (tính theo số cây biến nạp gen độc lập/phôi).

  • Cây lúa

Chuyển gen ở cây lúa đang được tập trung vào tính trạng chống chịu thuốc diệt cỏ và sản xuất vitamin A.

Kết quả tái sinh của cây lúa biến nạp gen bằng xung điện hoặc PEG thông qua nuôi cấy protoplast được thông báo lần đầu tiên cách đây khoảng 10 năm. Các nghiên cứu sau đó cũng đã sử dụng hai kỹ thuật này để biến nạp gen vào protoplast và phục hồi các cây biến nạp gen hữu thụ. Tuy nhiên, hạn chế của hai phương pháp này là phải xây dựng phương thức tái sinh cây từ tế bào đơn. Mặc dù các phương thức này đang dùng cho một số giống lúa thuộc loài phụ japonica (ví dụ: Taipei 309) nhưng hầu hết các giống japonica ưu tú cũng như phần lớn các giống indica đều khó tái sinh cây từ protoplast.

Phương pháp bắn gen cho phép thực hiện biến nạp gen hiệu quả ở lúa trong các kiểu gen độc lập, và hiện nay hơn 40 giống đã được biến nạp gen thành công. Mẫu vật sử dụng là phôi non và các callus có nguồn gốc từ hạt trưởng thành. Hygromycin B là marker chọn lọc thường được dùng cho lúa. Tần số biến nạp có thể cao tới 50% (tính theo số cây biến nạp gen có nguồn gốc độc lập/số mẫu được bắn gen). Gần đây, kỹ thuật biến nạp gen ở lúa thông qua Agrobacterium cũng đã có những cải tiến quan trọng có hiệu quả tương đương với kỹ thuật bắn gen.

Cây lúa chỉ sản sinh ra hợp chất caroteoid được chuyển thành vitamin A trong những bộ phận có màu xanh của cây, tuy nhiên trong hạt gạo mà con người vẫn dùng lại không có hợp chất này. Chính vì thế sự thiếu hụt vitamin A thường xảy ra ở những nơi sử dụng gạo làm lương thực chính. Gạo vàng TM là một loại ngũ cốc chuyển gen có khả năng nâng cao hàm lượng vitamin A trong bữa ăn hàng ngày. Loại gạo này có khả năng sản sinh và lưu giữ chất β-carotene. Nó được đặt tên là gạo vàng TM bởi vì nội nhũ (chất bột bên trong của hạt gạo) của nó có màu vàng nhạt, do chất β-carotene tạo ra.

  • Cây đậu tương

Đậu tương là một loại cây trồng lâu đời đã được trồng tại Trung Quốc từ năm 3.000 trước công nguyên. Đây là loại cây chứa dầu đem lại lợi ích kinh tế to lớn nhất trên thế giới. Hạt đậu tương có chứa tỷ lệ amino acid không thay thế nhiều hơn ở cả thịt, do vậy đậu tương là một trong những loại cây trồng lương thực quan trọng nhất trên thế giới hiện nay.

Đậu tương được biến đổi gen để mang các tính trạng như khả năng chống chịu thuốc diệt cỏ và có hàm lượng oleic acid cao.

Những cố gắng đầu tiên ở cây đậu tương biến nạp gen tập trung ở việc tái sinh cây từ protoplast và nuôi cấy dịch huyền phù phát sinh phôi. Mặc dù có những thành công ban đầu, tiến triển của công việc này vẫn còn chậm và việc thu hồi các cây chuyển gen vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn. Công nghệ chuyển gen ở đậu tương đã có triển vọng hơn nhờ sự phát triển và tối ưu hóa của kỹ thuật bắn gen (vi đạn). Thực tế, đậu tương đã được dùng như một cây mô hình để phát triển kỹ thuật cho nhiều loài cây trồng khó áp dụng công nghệ di truyền.

Kết quả đầu tiên ở đậu tương là thu hồi thành công cây chuyển gen nhờ Agrobacterium. Phương thức này dựa vào sự phát sinh chồi từ lá mầm của giống Peking chọn lọc cho tính mẫn cảm với Agrobacterium. Các mẫu lá mầm được xâm nhiễm với Agrobacterium mang plasmid kháng kanamycin và có hoạt tính gusA, hoặc kháng kanamycin và chống chịu glyphosate. Có thể biến nạp gen hiệu quả vào protoplast đậu tương bằng các phương thức thông dụng nhưng rất khó tái sinh được cây.

Để biến nạp gen vào các giống đậu tương khác nhau người ta đã phối hợp hai yếu tố: genotype đơn giản-phương thức tái sinh cây độc lập (dựa trên cơ sở sự tăng sinh của cụm chồi từ vùng chung quanh mô phân sinh của trụ phôi) với sự tăng gia tốc của vi đạn (particle) có phóng điện để phân phối DNA ngoại lai. Hàng trăm cây đậu tương có nguồn gốc độc lập đã thu được và kết quả biến nạp đã cho nhiều phenotype khác nhau.

Nói chung, các dòng đậu tương chuyển gen có nhiều bản sao của gen biến nạp (số bản sao khoảng từ 1-50 nhưng thường thay đổi từ 2-10). Phân tích Southern blot ở thế hệ sau của các bản sao gen phức cho thấy tất cả các bản sao cùng tách rời, như thế mỗi thể biến nạp sơ cấp chỉ hiện diện một kết quả biến nạp độc lập và có thể sự tái tổ hợp thống nhất đã không xuất hiện thường xuyên.

  • Cây bông

Cây bông là loại cây cung cấp sợi chủ yếu, chiếm tới một nửa số lượng vải sợi trên thế giới. Ngoài ra, một lượng nhỏ hạt bông được dùng như một nguồn thực phẩm, thức ăn gia súc và dầu ăn cho con người và vật nuôi. Dầu hạt bông được tinh chế trước khi dùng để loại bỏ chất gossypol độc hại cho người và tiêu hóa của động vật.

Phương thức biến nạp gián tiếp thông qua Agrobacterium tumefaciens là kỹ thuật đầu tiên được sử dụng để biến nạp gen vào cây bông giống Coker 312 (Umbeck 1987). Cây bông biến nạp gen cũng của giống trên đã được thu hồi sau khi bắn gen vào dịch huyền phù nuôi cấy phát sinh phôi (Finer và McMullen 1990). Hầu hết các giống bông có giá trị kinh tế khác không thể tái sinh cây từ giai đoạn callus. Một số ít các giống đó có thể tái sinh cây nhưng quá trình này thiên về biến dị dòng vô tính (somaclonal variation). Phương thức phân phối gen ngoại lai trực tiếp vào trong mô phân sinh của trụ phôi dựa trên công nghệ “ACCELL” cũng được phát triển và người ta đã thu hồi thành công cây biến nạp gen.

  • Cây cải dầu

Cây cải dầu được biến đổi gen với mục đích cải thiện chất lượng dinh dưỡng, đặc biệt là hàm lượng chất béo hòa tan của loại cây này. Cây cải dầu đựơc trồng chủ yếu ở các vùng phía tây Canada và một ít ở Ontario và tây bắc Thái Bình Dương, trung tâm phía bắc và vùng đông nam nước Mỹ. Ngoài ra, cây cải dầu cũng được trồng ở các nước khác của châu Âu và Australia. Cây cải dầu được biến đổi gen mang các tính trạng chống chịu thuốc diệt cỏ, có hàm lượng laurate và oleic acid cao.

  • Khoai tây

Khoai tây được xem là cây lương thực quan trọng thứ tư trên thế giới, với sản lượng hàng năm lên đến 300 triệu tấn và được trồng trên hơn 18 triệu hecta. Hiện nay, hơn một phần ba sản lượng khoai tây trên thế giới là của các nước đang phát triển. Sau khi Liên Xô tan rã thì Trung Quốc trở thành nước sản xuất khoai tây lớn nhất thế giới. Ấn Độ đứng thứ tư. Mặc dù sản lượng khoai tây tại châu Âu đã giảm xuống từ đầu những năm 1960, nhưng bù vào đó sản lượng khoai tây ở châu Á và nam Mỹ lại tăng lên vì thế sản lượng khoai tây trên thế giới vẫn càng ngày càng tăng. Khoai tây được biến đổi gen mang các tính trạng như khả năng kháng côn trùng và kháng virus.

  • Cà chua

Cà chua được coi là loại quả vườn phổ biến nhất hiện nay. Cà chua thường rất dễ trồng và một số giống đã cho những vụ mùa bội thu. Chất lượng quả cà chua chín cây vượt xa tất cả những loại quả khác có mặt trên thị trường thậm chí trong cả mùa vụ. Cây cà chua rất mềm và thích hợp với thời tiết ấm áp thế nên nó thường được trồng vào vụ hè. Cà chua được biến đổi gen mang các tính trạng như khả năng chịu thuốc diệt cỏ, kháng vật ký sinh và làm chậm quá trình chín của quả.

Cà chua chuyển gen kháng vật ký sinh (bên phải) và cà chua đối chứng (bên trái)

  • Cây bí đỏ

Bí đỏ mùa hè là một loại quả mềm và hợp với khí hậu ấm áp, được trồng ở nhiều nơi trên thế giới. Bí đỏ mùa hè khác bí đỏ mùa thu và mùa đông ở chỗ nó được chọn thu hoạch trước khi vỏ quả cứng và quả chín. Không mọc lan như bí đỏ và bí ngô mùa thu và mùa đông, bí đỏ mùa hè mọc thành bụi rậm. Một số cây khỏe và có sức đề kháng tốt cho sản lượng khá cao. Bí đỏ được biến đổi gen kháng virus đặc biệt là virus khảm dưa hấu (WMV) và virus khảm vàng zucchini (ZYMV).

  • Đu đủ

Đu đủ là một loại cây trồng quan trọng ở khu vực Đông Nam Á, được dùng làm thức ăn phổ biến trong các hộ nông dân sản xuất nhỏ và gia đình của họ. Hiện nay, giống đu đủ chuyển gen kháng virus đã được phát triển ở các nước thuộc khu vực Đông Nam Á.

Ðu đủ chuyển gen kháng virus (trên) và đu đủ đối chứng (dưới)

Các loại cây trồng đang được phát triển

  • Táo

Trên thế giới hiện có hơn 6.000 loại táo. Táo là một trong những loại trái cây được ưa thích nhất không chỉ bởi hương vị thơm ngọt mà nó còn rất tốt cho sức khỏe. Các cuộc nghiên cứu cho thấy ăn táo có thể giảm được nguy cơ mắc bệnh ung thư, các bệnh tim mạch và béo phì. Hiện nay, táo đang được nghiên cứu biến đổi gen để mang các tính trạng như làm chậm quá trình chín và kháng sâu bệnh.

  • Chuối

Trong số các loại cây trồng nhiệt đới, chuối rất được ưa thích do hương vị hấp dẫn của nó. Ngoài ra, chuối còn là một loại trái cây đa dụng, vì người ta có thể chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau. Hiện nay có khoảng 1.000 loại chuối khác nhau, loại trái cây giàu dinh dưỡng và không có chất béo này có chứa hàm lượng kali và chất xơ rất cao, và là nguồn cung cấp vitamin C chống oxy hóa. Chuối đang được nghiên cứu biến đổi gen để mang các tính trạng như kháng virus, giun tròn và nấm và có khả năng làm chín chậm. Chuối cũng là loại cây dự kiến được dùng làm vaccine thực phẩm (edible vaccine) để phòng chống nhiều loại bệnh dịch khủng khiếp ở các nước đang phát triển.

  • Dứa

Có nguồn gốc từ Trung Mỹ và Nam Mỹ và được xem như loại trái cây nhiệt đới được bán rộng rãi nhất, chiếm tới 44% tổng kim ngạch buôn bán trái cây nhiệt đới. Tính tới tháng 1/2001, toàn thế giới đã trồng được khoảng 12 triệu tấn dứa. Trong vòng 30 năm qua, sản lượng dứa hàng năm trên thế giới đã tăng lên gấp ba lần. Hiện nay, một số tổ chức nghiên cứu đang tiến hành nghiên cứu sự đa dạng di truyền của cây dứa. Bên cạnh đó, người ta đang biến đổi gen cây dứa để tăng khả năng kháng sâu bọ và virus, và bổ sung tính trạng làm chậm chín của cây.

  • Khoai lang

Khoai lang là một loại cây lương thực dễ trồng nhưng có vai trò rất quan trọng ở các nước đang phát triển. Trong những điều kiện về khí hậu bất lợi và không cần đầu tư nhiều, sản lượng khoai lang trên một hecta có thể đem lại nguồn năng lượng và dinh dưỡng cao hơn bất cứ cây trồng nào khác. Cây trồng này có thể phát triển trong điều kiện khô hạn nhiều tháng liền. Khoai lang đang được nghiên cứu biến đổi gen để kháng các loại bệnh virus phá hoại cây (SPVD-sweetpotato viral diseases).

  • Dừa

Sản phẩm có giá trị nhất của cây chính là dầu dừa chiết xuất từ cùi dừa. Hai nước sản xuất ra nhiều dầu dừa nhất là Indonesia và Philippin với sản lượng cùi dừa khô thu được trong năm 1999 lần lượt là 2,91 triệu tấn và 1,37 triệu tấn. Ngoài ra, còn có nhiều nước trồng dừa ở châu Á, châu Phi, nam Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, nam Mỹ và vùng Caribê. Chất làm cho dầu dừa trở nên hấp dẫn như vậy chính là hàm lượng lauric acid cao. Nhu cầu về lượng acid lauric cao vì nó được sử dụng để làm mứt, dầu ăn, mỹ phẩm, chất tẩy, bơ thực vật, dầu gội đầu và xà bông. Do vậy, trên thế giới nhu cầu về dầu dừa luôn luôn cao. Ngành công nghiệp chế biến dừa hiện nay đang bị de dọa do sự phát triển của một số loại cây trồng biến đổi gen cho nhiều dầu, như hạt cải dầu. Việc nghiên cứu thúc đẩy phát triển sản xuất dầu dừa có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với ngành công nghiệp chế biến dừa.

Tình hình cây trồng biến đổi gen được trồng thương mại trên toàn cầu

Cho đến nay, diện tích cây trồng biến đổi gen (GM) trên toàn cầu vẫn tiếp tục gia tăng ở mức 12-15%. Trong giai đoạn 8 năm kể từ năm 1996 tới năm 2003, diện tích trồng cây GM trên toàn cầu đã tăng gấp 40 lần (từ 1,7 triệu ha/1996 lên 67,7 triệu ha/2003), trong đó diện tích trồng ở các nước đang phát triển tăng đáng kể. Khoảng một phần ba diện tích trồng cây GM trên toàn cầu trong năm 2004 (tương đương 20 triệu ha) là diện tích trồng ở các nước đang phát triển, nơi có mức tăng lớn nhất.

Trong giai đoạn 1996-2003, đặc tính chống chịu thuốc diệt cỏ của cây trồng biến đổi gen vẫn liên tục giữ vị trí hàng đầu, tiếp theo là đặc tính kháng sâu bệnh.

Năm 2003, đặc tính chống chịu thuốc diệt cỏ được triển khai trên cây đậu tương, ngô, cải dầu (canola) và bông, chiếm 73% (49,7/67,7 triệu ha tổng diện tích trồng cây biến đổi gen trên toàn cầu), trong khi 12,2 triệu ha (18%) được dùng cho cây trồng Bt. Diện tích trồng bông và ngô có các gen chống chịu thuốc diệt cỏ và kháng sâu bệnh tiếp tục tăng, chiếm 8% (5,8 triệu ha) tăng so với 4,4 triệu ha của năm 2002. Hai cây trồng giữ vị trí hàng đầu trong năm 2003 là đậu tương chống chịu thuốc diệt cỏ, được trồng với diện tích 41,4 triệu ha chiếm 61% trong tổng diện tích toàn cầu và được trồng tại 7 nước; và ngô Bt với diện tích 9,1 triệu ha, tương đương với 13% diện tích trồng cây biến đổi gen trên thế giới và được trồng tại 9 nước.

Diện tích trồng ngô Bt tăng mạnh nhất là ở Mỹ. Đáng chú ý là trong năm 2004 Nam Phi đã trồng 84.000 ha ngô trắng Bt dùng làm thực phẩm, tăng 14 lần so với lần đầu tiên khi loại ngô này được giới thiệu ở Nam Phi vào năm 2001. Diện tích trồng ngô và bông Bt/chống chịu thuốc diệt cỏ cũng tăng mạnh, cho thấy xu hướng các gen biến đổi chiếm một tỷ lệ lớn trong diện tích trồng cây biến đổi gen trên phạm vi toàn cầu.

Tiềm năng đóng góp của cây trồng biến đổi gen

Lý do thuyết phục nhất đối với công nghệ sinh học mà cụ thể là cây trồng biến đổi gen đó là khả năng đóng góp của chúng trong các lĩnh vực sau:

– Nâng cao sản lượng cây trồng và do vậy góp phần đảm bảo an ninh lương thực, thức ăn gia súc và chất xơ trên toàn cầu.

– Bảo toàn sự đa dạng sinh học do đây là một công nghệ ít tiêu tốn đất có khả năng đem lại sản lượng cao hơn.

– Sử dụng một cách có hiệu quả hơn các yếu tố đầu vào đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững nông nghiệp và môi trường

– Tăng khả năng ổn định sản xuất làm giảm những thiệt hại phải gánh chịu trong các điều kiện khó khăn.

– Cải thiện các lợi ích kinh tế và xã hội và loại bỏ tình trạng đói nghèo ở các nước đang phát triển.

Kinh nghiệm trong 8 năm đầu tiên từ 1996-2003, trong đó tổng diện tích trên 300 triệu ha cây trồng biến đổi gen đã được trồng tại 21 nước trên toàn cầu, đã đáp ứng sự mong mỏi của hàng triệu hộ nông dân lớn và nhỏ ở cả các nước công nghiệp và đang phát triển. Năm 2003, đã có bằng chứng cho thấy cây trồng GM được trồng thương mại hóa tiếp tục đem lại các lợi ích đáng kể về mặt kinh tế, môi trường và xã hội cho các hộ nông dân lớn và nhỏ ở các nước đang phát triển, diện tích trồng cây biến đổi gen trên toàn cầu tiếp tục tăng trên 10%, mức tăng hàng năm là hai con số. Số hộ nông dân thu lợi từ cây trồng GM ngày càng nhiều và đạt 7 triệu người năm 2003, tăng so với 6 triệu của năm 2002. Đáng chú ý là trong năm 2003, trên 85% trong tổng số 7 triệu người trồng này thu lợi từ cây trồng GM là các nông dân nghèo trồng bông Bt, chủ yếu ở 9 tỉnh của Trung Quốc và nông dân nghèo ở Makhathini Flats, thuộc tỉnh KwaZulu Natal của Nam Phi.

Trị giá cây trồng biến đổi gen trên toàn cầu

Năm 2003, trị giá thị trường cây trồng biến đổi gen trên toàn cầu ước tính đạt từ 4,5 tới 4,75 tỷ đôla, tăng so với con số 4 tỷ đôla năm 2002, chiếm 15% trong tổng trị giá 31 tỷ đôla thị trường bảo vệ cây trồng trên toàn cầu và chiếm 13% trong tổng trị giá 30 tỷ đôla thị trường hạt giống toàn cầu. Trị giá thị trường cây trồng GM trên toàn cầu dựa trên giá bán hạt giống biến đổi gen cộng với bất cứ khoản chi phí công nghệ áp dụng nào khác. Giá trị thị trường cây trồng GM trên toàn cầu dự kiến đạt 5 tỷ đôla hoặc hơn thế nữa vào năm 2005.

Nhận định về cây trồng GM và triển vọng của chúng trong tương lai

Mặc dù những tranh cãi về cây trồng biến đổi gen hiện đang tiếp tục diễn ra ở Liên minh châu Âu nhưng người ta vẫn lạc quan tin rằng diện tích và số người trồng cây biến đổi gen trên toàn cầu sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm sau đó. Với tất cả những yếu tố hiện có thì diện tích trồng cây GM trên toàn cầu trong vòng 5 năm tới dự kiến sẽ đạt khoảng 100 triệu ha, và số người trồng sẽ tăng lên 10 triệu người ở 25 nước hoặc hơn nữa. Số lượng và tỷ lệ các hộ gia đình nhỏ từ các nước đang phát triển trồng cây GM so với toàn cầu dự kiến sẽ tăng mạnh. Các nước đã trồng cây trồng GM sẽ tiếp tục tăng diện tích trồng và số lượng các sản phẩm cây trồng GM trên thị trường sẽ đa dạng hơn. Các nước mới trồng cây GM ở nam Bán cầu như Ấn Độ, Brazil đã tăng diện tích trồng bông Bt và đậu tương chống chịu thuốc diệt cỏ. Một số nước như Uruguay cũng đã chuẩn y các sản phẩm mới như ngô GM, loại ngô này cũng đã được triển khai trồng ở các nước khác.

Các sản phẩm chuyển gen mang đặc tính mới góp phần tạo ra sự tăng trưởng ổn định, bao gồm gen Bt (cry1Ac và cry1Ab) ở bông và hai đặc tính mới được đưa vào ngô ở Bắc Mỹ là gen cry3Bb1 dùng để kiểm soát sâu đục thân ngô và gen cry1Fa2 dùng để kiểm soát tốt hơn các sâu bọ cánh phấn đều được giới thiệu ở Mỹ trong năm 2003. Ngoài ra, các sản phẩm Bt mới và gen mới đối với ngô kháng côn trùng dự kiến sẽ được đưa ra trong vòng 3 năm tới. Do vậy, diện tích trồng ngô biến đổi gen trên toàn cầu với tính trạng kháng côn trùng và chống chịu thuốc diệt cỏ cũng như các đặc tính tổng hợp có thể sẽ tăng đáng kể trong thời gian ngắn tới đây. Với việc chuẩn y trồng đậu tương biến đổi gen ở Brazil trong vụ 2003/2004, diện tích trồng đậu tương biến đổi gen trên toàn cầu dự kiến sẽ có mức tăng trưởng cao mới trong thời gian tới.

Năm 2003, ba nước đông dân nhất ở châu Á là Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia (tổng dân số là 2,5 tỷ người và GDP của cả ba nước là trên 1,5 nghìn tỷ đôla), ba nền kinh tế lớn ở châu Mỹ La-tinh là Argentine, Brazil và Mexico (dân số là 300 triệu người và GDP là 1,5 nghìn tỷ đôla) và nền kinh tế lớn nhất châu Phi là Nam Phi (dân số 45 triệu người và GDP là 130 tỷ đôla) tất cả đã chính thức trồng cây trồng biến đổi gen. Tổng số dân của những nước trên là 2,85 tỷ người với GDP là trên 3.000 tỷ đôla, đây là những người nhận được các lợi ích đáng kể mà cây trồng biến đổi gen đem lại.

Mười nước trồng cây biến đổi gen đứng đầu thế giới, mỗi nước trồng ít nhất 50.000 ha trong năm 2003, có tổng dân số xấp xỉ 3 tỷ người, gần bằng một nửa dân số thế giới và GDP là 13 nghìn tỷ đôla, khoảng một nửa mức GDP của toàn cầu là 30 nghìn tỷ đôla. Trong năm 2003, cây trồng biến đổi gen được trồng ở 18 nước với tổng số dân là 3,4 tỷ người, sống ở 6 châu lục ở miền Bắc và miền Nam Bán cầu là châu Á, châu Phi, Mỹ La-tinh, bắc Mỹ, châu Âu và châu Đại Dương. Do vậy, mặc dù vẫn còn những bất đồng về cây trồng biến đổi gen nhưng diện tích và số lượng người trồng loại cây này mỗi năm vẫn tiếp tục tăng hai con số hoặc hơn thế kể từ khi chúng được giới thiệu vào năm 1996, và năm 2003 có 7 triệu nông dân đã thu lợi từ công nghệ này.

Nguồn tham khảo

Trần Quốc Dung -VOER

Facebook Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *