Nuôi cấy mô cây Bao báp(Adansonia grandidieri L.)

Contents

Tóm tắt:

Cây bao báp (Adansonia grandidieri L.) là loại cây thân đại mộc, hiếm ở Việt Nam. Do đó, vấn đề bảo tồn loài cây này rất cần thiết. Môi trường tốt nhất cho sự nảy mầm của hạt là môi trường cơ bản MS bổ sung 1,0 mg/L BA + 0,1 mg/L NAA.

Môi trường tốt nhất cho sự tạo chồi từ đỉnh chồi và đoạn thân mang chồi nách của cây bao báp in vitro là môi trường cơ bản MS bổ sung 4,0 mg/L KIN + 0,1 mg/L NAA. Chồi được tạo rễ trên môi trường cơ bản MS có bổ sung IBA hoặc NAA, hình thành rễ tốt nhất trên môi trường MS có bổ sung 2,0 mg/L NAA. Cây nảy mầm in vitro và cây in vitro được đưa ra giá thể đất và cát với tỷ lệ 1:1, thích nghi với điều kiện tự nhiên và cho tỷ lệ sống sót đạt 93,33 %.

Tác giả:

Nguyễn Thị Xuân Thu(1), Đỗ Trung Đông(2), Lê Văn Tường Huân(1)
(1)Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
(2)Trung tâm Đào tạo Quốc tế, Đại học Huế

1. Mở đầu


Cây bao báp (Adansonia grandidieri L.) là loại cây thân mộc to, cao, mọc hoang dã, có nguồn gốc từ châu Phi [1]. Cây bao báp có nhiều công dụng như: quả có nhiều hạt chứa nhiều tartaric acid và vitamine C [3], vỏ cây được tước lấy sợi làm dây buộc, đan chiếu, rổ, mũ đi mưa, dây đàn và quần áo. Lá bao báp tươi còn được sử dụng làm thuốc trị bệnh thận, hen, vết cắn của côn trùng. Rễ được sử dụng để hòa tan thuốc nhuộm. Vỏ cây cũng được sử dụng như là thuốc nhuộm và để trang trí [2], [4]. Vỏ của hạt bao báp rất cứng nên hạt ngoài điều kiện tự nhiên không có khả năng nảy mầm. Ở Việt Nam, hiện nay chỉ có tồn tại một vài cây phân bố ở một số tỉnh thành trong cả nước [1].

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành “Nghiên cứu nuôi cấy mô cây bao báp (Adansonia grandidieri L.)” với mục đích nhân giống và bảo tồn trong điều kiện in vitro loài cây bao báp, có thể cung cấp cây con và góp phần bảo tồn nguồn gen của loài cây này.

2. Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu


2.1. Nguyên liệu

Nguyên liệu nghiên cứu là hạt của quả bao báp (Adansonia grandidieri L.). Ở đây chúng tôi chọn hạt non của quả bao báp 3 tháng tuổi thu hái từ cây ngoài tự nhiên (Quả bao báp chín sau 6 tháng tuổi).

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Khử trùng mẫu

Quả bao báp được ngâm trong nước xà phòng loãng và rữa kỹ dưới dòng nước chảy, sau đó khử trùng sơ bộ bằng cồn 70% trong 2 phút, tiếp đến khử trùng bề mặt vỏ quả bằng tia cực tím trong 60 phút.

2.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng lên khả năng nảy mầm từ hạt trong điều kiện in vitro

Hạt sau khi được tách ra khỏi thịt quả được tách hoặc không tách vỏ hạt, được cấy lên môi trường cơ bản MS có 2% saccharose; 0,8% agar và bổ sung BA, KIN, NAA phối hợp ở các nồng độ khác nhau để nghiên cứu khả năng nảy mầm từ hạt. Số liệu nghiên cứu được thu sau 8 tuần nuôi cấy.

2.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng lên khả năng tạo chồi in vitro

Đỉnh chồi (khoảng 1 cm) hoặc đoạn thân mang chồi nách (khoảng 1 cm), tách từ chồi in vitro, được cấy lên môi trường cơ bản MS có bổ sung BA, KIN, NAA phối hợp ở các nồng độ khác nhau để thăm dò khả năng tạo chồi của mẫu. Số liệu nghiên cứu được thu sau 8 tuần nuôi cấy.

2.2.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng lên khả năng tạo rễ của chồi in vitro

Các chồi (khoảng 1 cm) thu được từ các thí nghiệm trên, được cấy lên môi
trường cơ bản MS có bổ sung IBA hoặc NAA với các nồng độ khác nhau để thăm dò khả năng tạo rễ. Số liệu nghiên cứu được thu sau 6 tuần nuôi cấy.

2.2.5. Chuyển cây in vitro ra trồng ngoài điều kiện tự nhiên

Cây in vitro có nguồn gốc từ nuôi cấy hạt và cây in vitro có nguồn gốc từ nuôi cấy chồi sau khi đã tạo rễ hoàn chỉnh được chuyển ra trồng ngoài điều kiện tự nhiên.
Trồng cây vào chậu có giá thể đất và cát với tỷ lệ 1:1. Dùng màng nilon che cây để tránh ánh sáng trực tiếp và sử dụng bình xịt phun sương tưới nước 2 lần/ngày cho cây trong giai đoạn đầu thích nghi.

2.2.6. Xử lý số liệu

Mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần để tính trung bình mẫu và phân tích Duncan’s test với mức xác suất có ý nghĩa p < 0,05.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Hình 1. Nuôi cấy in vitro cây Bao báp. A. Hạt tách vỏ nảy mầm, B. Hạt không tách vỏ nảy mầm,C. Sinh trưởng của đỉnh chồi, D. Sự tạo chồi từ đoạn thân mang chồi nách, E. Sự tạo rễ của chồi in vitro, F. Cây nảy mầm từ hạt in vitro khi chuyển ra đất sau 21 ngày, G. Cây in vitro khi chuyển ra đất sau 21 ngày, H. Cây con sau khi chuyển ra đất 120 ngày

3.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng lên khả năng nảy mầm từ hạt trong điều kiện in vitro


3.1.1. Ảnh hưởng của BA và NAA lên khả năng nảy mầm của hạt tách vỏ


Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy ở tất cả các môi trường đều có sự nảy mầm. Kết quả sau 8 tuần nuôi cấy được trình bày ở bảng 1.

3.1.3. Ảnh hưởng của BA, KIN kết hợp với NAA lên khả năng nảy mầm của hạt không tách vỏ


Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của BA (0,1 – 4,0 mg/L), KIN (0,1 – 4,0 mg/L) kết hợp với NAA (0,1 và 0,5 mg/L) lên khả năng nảy mầm của hạt không tách vỏ chúng tôi nhận thấy, chỉ một số môi trường là có sự nảy mầm của hạt, tỷ lệ nảy mầm rất thấp. Môi trường bổ sung 1,0 mg/L BA và 0,5 mg/L NAA và môi trường bổ sung 2,0 mg/L KIN và 0,5 mg/L NAA là môi trường tốt nhất để hạt không tách vỏ nảy mầm. Tỷ lệ nảy mầm trung bình lần lượt là 16,67 % và 12,96 %. Cây nảy mầm in vitro sinh trưởng chậm, thân và chồi nhỏ (Hình 1B).


3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng lên khả năng tạo chồi từ đỉnh chồi trong điều kiện in vitro


3.2.1. Ảnh hưởng của BA và NAA


Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy ở tất cả các môi trường đỉnh chồi chỉ phát triển kéo dài thêm. Không có sự hình thành rễ trên các môi trường. Kết quả sau 8 tuần nuôi cấy được trình bày ở bảng 3.

Ở môi trường có bổ sung 3,0 mg/L BA và 0,1 mg/L NAA, khả năng sinh trưởng của chồi tốt nhất. Chiều cao chồi đạt cao nhất, chiều cao trung bình của chồi là 3,68 cm.


3.2.2. Ảnh hưởng của KIN và NAA


Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy ở tất cả các môi trường đỉnh chồi chỉ phát triển kéo dài thêm. Kết quả sau 8 tuần nuôi cấy được trình bày ở bảng 4.

Ở môi trường có bổ sung 4,0 mg/L KIN và 0,1 mg/L NAA, khả năng sinh trưởng của chồi tốt nhất, chiều cao trung bình của chồi là 3,97 cm. Có sự hình thành rễ, số lượng rễ trung bình trên chồi là 1,00 rễ/chồi, chiều dài rễ trung bình là 4,50 cm (Hinh 1C). Chồi phát triển tốt hơn so với môi trường bổ sung BA kết hợp với NAA.


3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng lên khả năng tạo chồi từ đoạn thân mang chồi nách trong điều kiện in vitro


3.3.1. Ảnh hưởng của BA và NAA


Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy ở tất cả các môi trường đều có hình thành chồi. Kết quả sau 8 tuần nuôi cấy được trình bày ở bảng 5.

Ở tất cả các môi trường, khả năng tạo chồi thấp, số chồi trung bình trên mẫu cấy là 1 chồi/mẫu cấy nhưng khả năng phát triển của chồi là khác nhau. Ở môi trường có bổ sung 3,0 mg/L BA và 0,1 mg/L NAA, khả năng phát triển của chồi là tốt nhất. Chiều cao chồi đạt cao nhất là 1,30 cm. Không có sự hình thành rễ.


3.3.2. Ảnh hưởng của KIN và NAA


Kết quả sau 8 tuần nuôi cấy, chúng tôi nhận thấy ở tất cả các môi trường đều có hình thành chồi được trình bày ở bảng 6.


Ở tất cả các môi trường, khả năng tạo chồi thấp, số chồi trung bình trên mẫu cấy là 1 chồi/mẫu cấy nhưng khả năng phát triển của chồi là khác nhau. Ở môi trường có bổ sung 4,0 mg/L KIN và 0,1 mg/L NAA, khả năng phát triển của chồi tốt nhất, chiều cao trung bình của chồi là 1,33 cm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo cây giống in vitro ở giai đoạn sau. Chồi không có sự hình thành rễ.


Như vậy, so với môi trường có bổ sung 3,0 mg/L BA và 0,1 mg/L NAA thì môi trường có bổ sung 4,0 mg/L KIN và 0,1 mg/L NAA cho kết quả tạo chồi tốt nhất (Hình 1D).

3.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng lên khả năng tạo rễ của chồi in vitro


3.4.1. Ảnh hưởng của IBA


Các chồi in vitro (khoảng 1 cm) được cấy lên môi trường cơ bản MS có bổ sung IBA với các nồng độ khác nhau để nghiên cứu khả năng tạo rễ của chồi in vitro. Kết quả sau 6 tuần nuôi cấy được trình bày ở bảng 7.

Bổ sung IBA vào môi trường nuôi cấy đã có tác dụng tích cực đến sự hình thành rễ của chồi in vitro. Trong các môi trường có bổ sung IBA nghiên cứu, môi trường bổ sung 2,0 mg/L IBA, khả năng tạo rễ của chồi là tốt nhất. Tỷ lệ tạo rễ trung bình là 83,33 %. Số rễ trung bình trên chồi là 2,53 rễ/chồi, chiều dài rễ trung bình là 13,54 cm. Rễ to, dài, nhiều rễ phụ.


3.4.2. Ảnh hưởng của NAA


Các chồi in vitro (khoảng 1 cm) thu được từ các thí nghiệm trên, cấy lên môi trường cơ bản MS có bổ sung NAA với các nồng độ khác nhau để nghiên cứu khả năng tạo rễ của chồi in vitro. Kết quả sau 6 tuần nuôi cấy được trình bày ở bảng 8.

Khi tăng nồng độ NAA từ 0,5 – 2,0 mg/L đã làm tăng số rễ hình thành từ chồi cũng như chiều dài rễ. Kết quả tốt nhất thu được trên môi trường bổ sung 2,0 mg/L NAA, tỷ lệ tạo rễ trung bình là 88,89 %, số rễ trung bình trên chồi là 3,20 rễ/chồi, chiều dài rễ trung bình là 6,48 cm. Khả năng tạo rễ cũng như sinh trưởng của chồi là tốt nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho giai đoạn chuyển cây ra đất.


Như vậy, so với môi trường có bổ sung môi trường bổ sung 2,0 mg/L IBA thì môi trường có bổ sung 2,0 mg/L NAA cho khả năng tạo rễ của chồi tốt nhất (Hình 1E).


3.5. Chuyển cây ra đất


3.5.1. Khả năng sinh trưởng và tỷ lệ sống sót của cây in vitro có nguồn gốc từ nuôi cấy hạt khi chuyển ra trồng ngoài điều kiện tự nhiên


Kết quả nghiên cứu cho thấy, chiều cao trung bình của cây khi mới chuyển ra ngoài điều kiện tự nhiên là 8,64 cm, sau 14 ngày chuyển ra trồng ngoài điều kiện tự nhiên, tỷ lệ sống là 95,56 %. Cây sinh trưởng tốt, chiều cao của cây có tăng lên với chiều cao trung bình của cây là 9,85 cm. Sau 21 ngày, tỷ lệ sống là 93,33 %. Chiều cao cây tiếp tục tăng, chiều cao trung bình của cây là 10,30 cm (Hình 1F). Điều này cho thấy cây đã thích nghi được với điều kiện bên ngoài.


3.5.2. Khả năng sinh trưởng và tỷ lệ sống sót của cây in vitro có nguồn gốc từ nuôi cấy chồi khi chuyển ra trồng ngoài điều kiện tự nhiên


Kết quả nghiên cứu cho thấy, chiều cao trung bình của cây khi mới chuyển ra ngoài điều kiện tự nhiên là 5,50 cm, sau 14 ngày chuyển ra trồng ngoài điều kiện tự nhiên tỷ lệ sống là 93,33 %. Cây sinh trưởng tốt, chiều cao trung bình của cây là 6,86 cm. Sau 21 ngày, tỷ lệ sống là 82,22 %. Chiều cao cây tăng, chiều cao trung bình của cây là 7,23 cm (Hình 1G).
Như vậy, cây in vitro có nguồn gốc từ nuôi cấy hạt cho tỷ lệ sống sót cao hơn so với cây in vitro có nguồn gốc từ nuôi cấy chồi khi chuyển ra trồng ngoài điều kiện tự nhiên.

Kết luận


Trên cơ sở các kết quả thu được chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

  • Môi trường có bổ sung 1,0 mg/L BA và 0,1 mg/L NAA là môi trường tốt nhất để hạt tách vỏ nảy mầm trong điều kiện in vitro. Môi trường có bổ sung 1,0 mg/L BA và 0,5 mg/L NAA là môi trường tốt nhất để hạt không tách vỏ nảy mầm trong điều kiện in vitro.
  • Môi trường có bổ sung 4,0 mg/L KIN và 0,1 mg/L NAA là môi trường tốt nhất cho sự phát triển kéo dài của đỉnh chồi nuôi cấy và sinh trưởng của chồi in vitro từ đoạn thân mang chồi nách.
  • Môi trường có bổ sung NAA với nồng độ 2,0 mg/L là môi trường tốt nhất cho tạo rễ của chồi in vitro.
  • Cây in vitro có nguồn gốc từ nuôi cấy hạt và có nguồn gốc từ nuôi cấy chồi được huấn luyện thích nghi với điều kiện tự nhiên trên giá thể đất và cát với tỷ lệ 1:1, sau khi chuyển ra đất 21 ngày, đạt tỷ lệ sống lần lượt là 93,33 % và 82,22 %.

TÀI LIỆU THAM KHẢO


[1]. Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam, Quyển I, Nxb. Trẻ, 1999.
[2]. Pospisiloca J., Ticha I., Kadlecek P., Haisel D., Acclimatization of micropropagated plants to ex vitro conditions, Biologia Plantarum, 42 (4), (1999), 481 – 497.
174 Nghiên cứu nuôi cấy mô cây bao báp (Adansonia grandidieri L.)
[3]. Sidibé M., Scheuring J. F., Tembely D., Sidibé M. M., Hofman P. and Frigg M., Baobab – homegrown vitamin C for Africa, Agroforestry Today, 8(2), (1996), 13 – 15.
[4]. Sidibe M. and Williams J. T., Baobab Adansonia digitata L. International Centre for Underutilised Crops, University of Southampton, 2002.

Facebook Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Call Now Button