Nuôi cấy mô: Tạo dòng Cẩm Chướng Gấm đa bội bằng xử lý Colchicine

TẠO DÒNG CẨM CHƯỚNG GẤM (Dianthus chinensis) ĐA BỘI BẰNG XỬ LÝ COLCHICINE IN VITRO: Colchicine thường được sử dụng nhằm tạo ra thể đa bội ở nhiều loài thực vật và đạt hiệu quả cao khi xử lý trong điều kiện ống nghiệm( in vitro). Bài nghiên cứu thuộc quyền tác giả Nguyễn Thị Lý Anh, Học Viện Nông Nghiệp Miền Nam.

Giới thiệu

Các thí nghiệm được tiến hành trên giống Cẩm Chướng Gấm Tím viền trắng. Vật liệu thí nghiệm là đoạn thân mang mắt ngủ của cây in vitro và được xử lý tạo đột biến bằng dung dịch colchicine ở nồng độ từ 0; 0,01; 0,05; 0,1% trong thời gian 24, 48 và 72 giờ. Các dạng đột biến sau xử lý được phân lập theo đặc điểm hình thái trong cả điều kiện in vitro và điều kiện vườn trồng. Kết quả cho thấy: Khi xử lý colchicine ở nồng độ 0,05; 0,1% trong 24 hoặc 48 giờ và ở nồng độ colchicine 0,01, 0,05% trong 72 giờ cho tỷ lệ mẫu đột biến từ 0,87- 12,85% và hiệu quả gây đột biến tạo ra các dạng biến dị có chất lượng cây tốt nhất khi xử lý colchicine ở nồng độ 0,05 và 0,1% trong 48 giờ. Khi trồng các cây thu được sau xử lý ở điều kiện tự nhiên đã thu được 8 dạng đột biến khác dạng cây đối chứng. Trong đó, hai dạng đột biến D7 và dạng D9 được xác định là hai dạng cẩm chướng đột biến đa bội mới (2n = 4x) có ưu điểm về hình thái (chiều cao cây, kích thước lá, đường kính hoa, độ bền hoa, độ đậm màu sắc hoa). Hai dạng đột biến đa bội này đã được nhân nhanh in vitro để tạo dòng, đánh giá ổn định di truyền trong vụ trồng tiếp theo và đều có ưu thế hơn giống gốc về sinh trưởng, năng suất, chất lượng hoa và tính chống chịu sâu bệnh.

Từ khóa: Cẩm chướng gấm, Colchicine, đa bội, đột biến, giống Tím viền trắng.

VẤN ĐỀ

Cẩm Chướng Gấm (Dianthus chinensis) có nguồn gốc từ Trung Quốc, được du nhập vào nước ta từ những năm đầu thế kỉ 20. Cây cẩm chướng gấm có thể thích nghi với điều kiện nóng ẩm, sinh trưởng tốt vào mùa hè, màu sắc đa dạng và được trồng trong chậu làm cây cảnh hay trong các bồn hoa lớn trang trí ở những nơi công cộng. Tuy nhiên, cây hoa Cẩm Chướng Gấm có nhược điểm là cây thân bụi, nhỏ yếu rất dễ gãy, hoa bé, cánh mỏng,… nên chưa được phổ biến rộng rãi và giá trị kinh tế không cao. Với phương pháp truyền thống, các vấn đề cải tiến di truyền thường cần rất nhiều thời gian, công sức. Do đó, việc áp dụng các biện pháp công nghệ sinh học để tạo giống cây trồng đang là một công cụ hữu ích cho các nhà chọn tạo giống.

Colchicine đã được sử dụng thành công để tạo ra đa bội trong nhiều loài thực vật và đạt hiệu quả cao khi xử lý trong điều kiện in vitro (Watrous & Wimber, 1988; Ali et al., 1992; Ishizaka & Uematsu, 1994; Ganga & Chezhiyan, 2002; Thao, N.T.P. et al., 2003; Hasan & Munqez, 2014). Hướng nghiên cứu này đã được triển khai ở Việt Nam và mới thu được một số kết quả bước đầu đối với cây có múi và cây dưa hấu (Trần Thị Hạnh và cs., 2003; Lâm Ngọc Phương và Nguyễn Kim Hằng, 2010; Nguyễn Thị Ngọc Trâm và cs., 2012), nhưng phương pháp xử lý đa bội in vitro trong chọn tạo giống các cây hoa chưa được quan tâm. Nghiên cứu này của chúng tôi nhằm xác định nồng độ colchicine và thời gian xử lý thích hợp để tạo được dòng cẩm chướng gấm đa bội có triển vọng, phục vụ công tác chọn tạo giống hoa cẩm chướng mới ở nước ta.

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1. Vật liệu

Nghiên cứu được tiến hành trên giống Cẩm Chướng Gấm (Dianthus chinensis) có hoa Tím viền trắng. Sử dụng đoạn thân mang mắt ngủ của cây nuôi cấy mô 3 tuần tuổi, có độ dài 0,5- 0,7cm làm vật liệu thí nghiệm.

2.2. Phương pháp

2.2.1. Nuôi cấy mô tế bào thực vật

Thí nghiệm sử dụng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật hiện hành (Gamborg & Phillips, 1995). Môi trường nền là môi trường cơ bản MS (Murashige & Skoog, 1962): 6,2 g/l agar, 30 g/l saccarose và 100 mg/l inositol, pH môi trường là 5,8. Môi trường nhân nhanh chồi: MS + 0,5ppm BA + 1,0ppm Ki, môi trường tạo rễ: MS + 0,25ppm αNAA. Môi trường nuôi cấy được hấp khử trùng ở 1210C trong 20 phút áp suất 1atm. Mẫu được nuôi cấy ở nhiệt độ 25±20C, ẩm độ 70%, cường độ chiếu sáng 2000lux, thời gian chiếu sáng 16 giờ/ngày.

2.2.2. Xử lý đột biến bằng colchicine

Ngâm mẫu vào trong môi trường nuôi cấy lỏng có chứa colchicine ở các nồng độ 0; 0,01; 0,05 và 0,1%. Bình ngâm mẫu được đặt trên máy lắc với tốc độ lắc 60 vòng/phút trong khoảng thời gian 24, 48 và 72 giờ. Sau khi lắc tiến hành rửa mẫu 4 lần liên tục bằng nước cất vô trùng trong buồng cấy, mỗi lần rửa mẫu trong thời gian 1 phút. Mẫu cấy sau xử lý được nuôi cấy trên môi trường nhân nhanh để đánh giá khả năng sống, khả năng tái sinh chồi và sự biến dị hình thái.

2.2.3. Chọn lọc cá thể đột biến sau xử lý

a. Quan sát đặc điểm hình thái

Các mẫu sau xử lý đột biến in vitro được nhân nhanh bằng nuôi cấy mô, sau đó đem trồng ngoài điều kiện tự nhiên trong vụ Xuân 2011, 2012 tại nhà lưới (Viện Sinh học Nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam). Sự sinh trưởng phát triển của các dòng cẩm chướng đột biến được đánh giá thông qua các chỉ tiêu: Tỷ lệ sống, chiều cao cây, số lá, số chồi, đường kính thân, đường kính hoa…So sánh các chỉ số thu được của các dòng đột biến với giống gốc để chọn lọc ra những dạng đột biến có triển vọng. b. Xác định độ bội

– Phương pháp quan sát khí khổng: Lấy lá của các dạng đột biến trồng ở ngoài điều kiện tự nhiên, sau đó tách lấy một lớp biểu bì phía mặt

sau của lá. Đặt lớp mỏng tế bào lên lam kính, nhỏ một giọt nước, đậy lamen. Đặt lam kính lên kính hiển vi quan sát và chụp ảnh khí khổng ở vật kính có độ phóng đại 100 lần. Làm tương tự với lá của cây đối chứng và so sánh.

– Phương pháp đo diện tích lá: Sử dụng máy đo diện tích lá CI -202 AREA METER. Đo diện tích của tất cả các lá trên cây và tính diện tích trung bình/lá.

– Phương pháp xác định độ bội bằng Flow cytometter: trên máy Partec Ploidy Analyser PA-I, theo Dolezˇel và cs. (1989) có cải tiến: Sử dụng 50mg lá của cây nghiên cứu, đặt trong đĩa petri để trên đá. Thêm 1ml dung dịch A (14.3 mL MgSO4 lạnh, 15mg dithiothreitol, 300 μL PI stock, 375 μL Triton X100 stock) vào đĩa sau đó cắt nát mẫu bằng lưỡi dao sắc. Mẫu được lọc qua màng lọc có kích thước 33μm. Ly tâm 15 000 vòng/phút trong 15 đến 20 giây và loại bỏ phần dịch phía trên. Tiếp theo đó, hòa tan lại cặn trong 200μL dung dịch B (3ml dung dịch A, 7,5 μL RNAse, 3.0 CRBC) và ủ 15 phút ở 370C sau đó chạy mẫu trên máy.

2.2.4. Bố trí và theo dõi thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD), 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại 30 mẫu. Các chỉ tiêu đo đếm được tiến hành định kỳ 1-2 tuần một lần tùy từng thí nghiệm và giai đoạn phát triển của cây.

2.2.5. Phân tích số liệu

Số liệu thực nghiệm được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học trên phần mềm Microsoft Excel 2003 và IRRISTAT 4.0.

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đánh giá ảnh hưởng của colchicine đến khả năng sống và biến dị của giống cẩm chướng

Trắng viền tím trong điều kiện in vitro Kết quả về tác động của xử lý cochicine ở các nồng độ và thời gian khác nhau đến mẫu cẩm chướng gấm in vitro được trình bày ở bảng 1.

Trong cùng thời gian xử lý, tỷ lệ mẫu sống, tạo chồi giảm dần theo sự gia tăng của nồng độ colchicine. Ở công thức không xử lý và xử lý colchicine 0,01% trong 24 giờ (CT1, CT2, CT5 và CT9), hai chỉ tiêu nêu trên đạt 100%. Trong khi đó, ở các công thức thí nghiệm còn lại đều ghi nhận sự giảm đáng kể khả năng sống và khả năng tạo chồi của mẫu sau xử lý. Hơn thế, khi xử lý trong thời gian dài và nồng độ cao của

colchicine không phải tất cả các mẫu sống đều có thể tạo chồi. Đặc biệt, xử lý colchicine ở nồng độ 0,1% trong 72 giờ (CT12) chỉ còn khoảng 40% số mẫu sống có khả năng tạo chồi. Đồng thời với sự giảm khả năng sống và tạo chồi, ở các công thức thí nghiệm này đều xuất hiện các chồi biến dị. Khi thời gian xử lý là 72 giờ ở tất cả các nồng độ colchicine, tỷ lệ tạo chồi biến dị đạt trên 50% tổng số chồi tái sinh.

Nồng độ colchicine 0,01% xử lý trong 72 giờ gây biến dị với tỷ lệ cao nhất (đạt 33,33% số mẫu xử lý), tiếp đến là xử lý ở nồng độ 0,05% trong 72 giờ và 0,1% trong 24 giờ (đều đạt 23,33% mẫu xử lý). Điều đó cho thấy rõ ràng là hiệu quả gây đột biến cho giống cẩm chướng gấm Trắng viền tím khi được xử lý colchicine ở nồng độ thấp trong thời gian dài hoặc nồng độ cao trong thời gian ngắn. Theo Lê Duy Thành (2001), phạm vi nồng độ gây hiệu quả của colchicine là 0,1-1,0%, nồng độ thông dụng nhất cho nhiều loại cây trồng là 0,2% và xử lý ở nồng độ cao thời gian ngắn cho hiệu quả hơn khi xử lý ở nồng độ thấp thời gian dài. Điều này đã được Beyene và cộng sự (2013) ghi nhận khi nghiên cứu tạo giống chuối ‘Namwa’ đa bội thông qua xử lý phôi soma bằng colchicine ở nồng độ (0; 0,3; 0,5; 1,0%) trong thời gian 48, 72 và 96 giờ. Tuy nhiên, trong nghiên cứu xử lý

colchicine in vitro cho các cây trồng khác, một số tác giả đạt hiệu quả tạo cây đa bội cao khi sử dụng nồng độ colchicine thấp và xử lý thời gian dài như: xử lý colchicine nồng độ 0,025% trong thời gian 6 ngày cho tỷ lệ cây dưa hấu tứ bội cao nhất là 10% (Lâm Ngọc Phương và Nguyễn Kim Hằng, 2010); tạo cỏ Brachiaria tứ bội đạt 3,9% khi xử lý colchicine ở nồng độ 0,1% trong 48 giờ (Carine and Cacilda, 2009). Như vậy, sự đáp ứng khác nhau của các đối tượng nghiên cứu với nồng độ và thời gian xử lý colchicine có thể được quyết định bởi kiểu di truyền của mỗi loại cây.

3.2. Đánh giá ảnh hưởng của colchicine đến khả năng sống, sinh trưởng, phát triển và biến dị ở điều kiện tự nhiên của giống cẩm chướng gấm Trắng viền tím

Tất cả các dạng chồi thu được trong thí nghiệm nêu trên đều được nhân lên qua 3 chu kỳ và đưa sang môi trường tạo rễ. Các cây in vitro thế hệ M1V4 sau 2 tuần nuôi cấy trên môi trường ra rễ được đưa ra thích ứng với điều kiện tự nhiên bằng phương pháp thuỷ canh, sau đó trồng trong nhà lưới có mái che để phân lập các thể biến dị và đánh giá về khả năng sinh trưởng của chúng (Bảng 2 và 3).

 

Số liệu ở bảng 2 và 3 cho thấy:Các dạng cây in vitro thích ứng tốt với điều kiện tự nhiên, tỷ lệ cây sống rất cao từ 68,74-100%. Theo Ganga và Chezhiyan (2002), hiệu quả của colchicine trong trong việc tạo ra cây đột biến phụ thuộc vào nhiều yếu tố như môi trường nuôi cấy, loại cây, thời gian và nồng độ xử lý. Trong nghiên cứu này, ở điều kiện tự nhiên, các dạng cây đột biến xuất hiện khi xử lý colchicine ở nồng độ 0,05; 0,1% trong 24 và 48 giờ hoặc xử lý 72 giờ ở nồng độ colchicine 0,01% và 0,05%. Tỷ lệ mẫu đột biến đạt cao nhất là 12,85% ở công thức xử lý 0,05% colchicine trong 72 giờ và thấp nhất là 0,87% ở công thức xử lý 0,1% colchicine trong 24 giờ. Điểm đáng chú ý là ở các công thức xử lý đã thấy xuất hiện 8 dạng cây (D2 đến D9) mang những đặc điểm biến dị hình thái như màu sắc hoa nhạt hoặc đậm hơn, kích thước hoa lớn hơn, một số dạng thân nhỏ, nhiều nhánh…

Các dạng cây biến dị có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt và có những đặc điểm hình thái khác biệt với cây đối chứng. Trong đó, hai dạng D7, D9 có nhiều đặc điểm hình thái (chiều cao cây, đường kính thân, đường kính hoa) vượt hơn dạng đối chứng và các dạng biến dị khác. Bên cạnh đó, màu sắc hoa của hai dạng D7 và D9 cũng đậm màu hơn dạng đối chứng.

Do đó, hai dạng D7 và D9 được chúng tôi tập trung đánh giá sâu hơn về mức độ bội thể.

3.3. Đánh giá khả năng đa bội của các dòng cẩm chướng D7, D9

Tiến hành đo diện tích lá và quan sát đặc điểm khí khổng của cây (Bảng 4) cho thấy: Diện tích lá ở cây D1 (đối chứng) là thấp nhất (6,24 cm2/lá), ở cây D7 là 8,3 cm2/lá và diện tích lá ở cây D9 là cao nhất (12,80cm2/lá). Khí khổng ở cây D1 và cây D7 có dạng hình trứng phân bố rải rác, còn cây D9 có dạng hình cầu xếp xít nhau và kích thước khá lớn. Phương pháp kiểm tra sơ bộ dựa trên đặc điểm khí khổng được đánh giá là rất hiệu quả trong việc xác định thể đa bội (Motonobu et al., 1997, Kim & Kim, 2003, Vichiato, 2004) tuy nhiên không nên chỉ sử dụng phương pháp này để kiểm tra mức độ đa bội (Souza and Queiroz, 2004;. Madon et al., 2005). Các nghiên cứu về nhiễm sắc thể tăng gấp đôi trong cây Hedychium muluense sau xử lý colchicine và oryzalin chứng minh rằng phân tích sự đa bội thông qua phương pháp đo độ bội bằng máy Flow cytometry kết hợp với đếm nhiễm sắc thể là đáng tin cậy hơn so với phương pháp đo đếm khí khổng (Sakhanokho et al., 2009). Phương pháp đo độ bội có thể xử lý một

số lượng lớn mẫu (hàng trăm mẫu) mỗi ngày với kết quả đáng tin cậy do thành phần DNA không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài (Xing et al., 2011). Phương pháp này đã được ứng dụng trên cây cỏ Brachiaria (Pinheiro et al., 2000), Triticum (Kubalakova et al., 2002), Malus (Hofer & Meister, 2010), Jatropha

(Kaewpoo & Te-Chato, 2010), Banana (Pio et al., 2014) và cho kết quả chính xác khi xác định thể đa bội. Ứng dụng phương pháp đo độ bội bằng máy Flow cytometry cho hai dạng D7 và D9, kết quả cho thấy dạng D9 và D7 đều là các dạng đột biến tứ bội (2n = 4x) (Bảng 4 và hình 1).

3.4. Đánh giá sự ổn định di truyền của các dòng cẩm chướng đa bội

Các dạng D7 và D9, sau khi được xác định là thể tứ bội được đưa trở lại nuôi cấy in vitro để nhân nhanh, tạo dòng với số lượng lớn cá thể và tiếp tục đưa ra trồng vụ tiếp theo ở điều kiện tự nhiên để đánh giá đặc tính sinh trưởng, phát triển và sự ổn định di truyền của các dòng cẩm chướng gấm đa bội mới này. Kết quả được trình bày ở bảng 5 và 6.

Hai dòng cẩm chướng D7 và D9 đã có sự khác biệt rõ rệt so với giống đối chứng hoa Tím viền trắng. Các dòng D7, D9 có tất cả các chỉ tiêu theo dõi cao hơn dòng đối chứng từ 1,17-1,75 lần và dòng D7 có sự vượt trội hơn cả về chiều cao cây, số lá trên cây, số lượng chồi, đường kính tán, còn dòng D9 có đường kính thân và kích thước lá lớn nhất. Trong cùng một thời gian theo dõi, dòng đa bội D9 có số hoa cao nhất (với số lượng hoa đạt 15,33 hoa/đợt/cây, so với D7 là 13,87 hoa và đối chứng là 12,13 hoa) và chất lượng hoa tốt nhất (đường kính hoa, độ bền hoa và độ đậm màu của hoa cao nhất). Sâu bệnh hại trên các dòng cẩm chướng nghiên cứu chủ yếu là sâu khoang (Spodoptera litura) và nấm gây héo vàng (Fusarium oxysporum). Theo quan sát và đánh giá, giống đối chứng có tỉ lệ sâu và bệnh hại xuất hiện nhiều nhất, kế đến là dòng D7 và ít nhất là dòng D9. Điều này cũng chứng tỏ dòng cẩm chướng đã qua xử lý đa bội có sức chống chịu tốt hơn đối với sâu, bệnh hại. Những đặc điểm về sinh trưởng, phát triển và chống chịu bệnh nêu trên của hai dòng D7 và D9 hoàn toàn phù hợp với các đặc trưng điển hình của cây đa bội (Trần Duy Quý, 1997; Lê Duy Thành, 2001) và chứng tỏ sự ổn định di truyền của chúng qua các vụ trồng khác nhau.

4. KẾT LUẬN

Đã xác định được nồng độ colchicine và thời gian xử lý thích hợp để tạo đột biến đa bội đối với cẩm chướng gấm (Dianthus chinensis) giống Tím viền trắng. Các kết quả nghiên cứu cho thấy:

– Có thể tạo các dạng đột biến bằng xử lý colchicine in vitro ở nồng độ 0,05; 0,1% trong 24 hoặc 48 giờ, hoặc ở nồng độ colchicine 0,01, 0,05% trong 72 giờ với tỷ lệ mẫu đột biến từ 0,87-12,85%.

– Hiệu quả gây đột biến tạo ra các dạng biến dị đa bội có chất lượng cây tốt (có chiều cao cây, kích thước lá, đường kính hoa, độ bền hoa, độ đậm màu sắc hoa và chống chịu sâu bệnh của cây cao hơn hẳn dòng đối chứng) thu được khi xử lý colchicine ở nồng độ 0,05-0,1% trong 48 giờ.

– Đã chọn tạo được hai dòng cẩm chướng tứ bội triển vọng là D7 và dòng D9. Các dòng tứ bội này có thể dùng làm nguyên liệu cho phát triển giống mới.

LỜI CẢM ƠN

Các tác giả( Nguyễn Thị Lý Anh*, Nguyễn Thị Thanh Phương, Hồ Thị Thu Thanh, Lê Hải Hà, Nguyễn Thị Hân)  xin trân trọng cám ơn chương trình Công nghệ sinh học Nông nghiệp – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tài trợ kinh phí cho việc thực hiện công trình này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trần Thị Hạnh, Hà Thị Thuý, Đỗ Năng Vịnh (2003). Tạo dòng tứ bội thể ở cam Xã Đoài bằng xử lý  colchicine chồi nuôi cấy trong điều kiện in vitro. Báo cáo khoa học Hội nghị Công nghệ sinh học toàn quốc, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật

Lâm Ngọc Phương và Nguyễn Kim Hằng (2010). Tạo cây dưa hấu tứ bội bằng xử lý colchicine in vitro. Tạp chí Khoa học, 16a: 234-244. Trần Duy Quý (1997). Đột biến cơ sở khoa học và ứng dụng. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 46- 61.

Lê Duy Thành (2001). Cơ sở di truyền chọn giống thực vật, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, tr. 67 – 97

Nguyễn Thị Ngọc Trâm, Trần Nhân Dũng và Đỗ Tấn Khang (2012) . Đánh giá hiệu quả của colchicine trong chọn tạo giống quýt hồng Lai vung tứ bội (Citrus reticulata Blanco). Tạp chí Khoa học, 23a: 174-183.

Ali, M., Okubo, H. and Fujieda, K. (1992). Production and characterization of Solanum amphidiploids and their resistance to bacterial wilt. Scientia Hortic., 49: 181-196.

Beyene Demtsu, Thunya Taychasinpitak, Shermarl Wongchaochant, Benya Manochai (2013). Induced Mutation by Colchicine Treatment of Somatic Embryos in ‘Namwa’ Banana (Musa sp. ABB). International Transaction Journal of Engineering, Management, & Applied Sciences & Technologies, 4(4): 311-320.

Chakraborti SP, Vijayan K, Roy BN, Qadri SMH (1998). In vitro induction of tetraploidy in mulbery (Morus alba L.). Plant Cel Rep., 17: 79-803.

Dolezˇel J, Binarova ́ P, Lucretti S. (1989). Analysis of nuclear DNA content in plant cells by flow cytometry. Biologia Plantarum, 31: 113-120.

Gamborg OL, Phillips GC (1995). Plant cell, tissue and organ culture: Fundamental methods. Springer- Verlag Berlin Heidelberg GmbH, p. 358.

Ganga, M., and N. Chezhiyan (2002). Influence of the antimitotic agents colchicine and oryzalin on in vitro regeneration and chromosome doubling of diploid bananas (Musa spp.), J. Hortic. Sci. Biotechnol., 77(5): 572-575.

Hasan Abu-Qaoud and Munqez J. Y. Shtaya (2014). The Efect of Colchicine on Adventitious Shoot Regeneration from Cultured Leaf Explants of Petunia hybrida. British Biotechnology Journal, 4(5): 531-540.

Höfer M, Meister A (2010). Genome size variation in Malus species. J. Bot., 2010: 1-8.

Ishizaka, H. and Uematsu, J. (1994). Amphidiploids between Cyclamenpersicum Mill. and C. hederifolium Aiton induced through colchicine treatment of ovules in vitro and plants. Breed. Sci., 44: 161-166.

Kaewpoo M, Te-chato S. (2010). Study on ploidy level of micropropagated Jatropha curcas L. via flow cytometry. J. Agric. Technol., 6(2): 391-400.

Kim MS and Kim JY (2003). Chomosome doubling of a Cymbidium hybrid whit colchicine treatment in meristem culture. Proc. Nioc., 1: 37-40.

Kubalakova M, Vrana J, Cihalikova J, Simkova H, Dolezel J (2002). Flow karyotyping and chromosome sorting in bread wheat (Triticum aestivum). Theor. Appl. Genet., 104(8): 1362-1372.

Madon M, Clyde MM, Hasmim H, Mohd YY, Mat H, Saratha S (2005). Poliploidy induction of oil palm though colchicine and oryzalin treatments. J. Oil Palm Res., 17: 110-123. Motonobu E, Kim JS, Inada I (1997). Production and characteristics of chromosome doubling plants of small flowered garden Chysanthemum,

Dendranthema x Gradiflorum Ramat. Kitam. cv. YS by colchicine treatment of cultured shoot tips. J. Jpn Soc. Hortic. Sci., 65: 528-833. Murashige T. and Skoog F., (1962). A revised medium for rapid growth and bio-assays with tobacco tissue cultures. Physiologia Plantarum, 15: 473-497.

Pinheiro AA, Pozzobon MT, Valle CB, Penteado MIO, Caneiro VTC (2000). Duplication of the chromosome number of diploid Brachiaria brizantha plants using colchicine. Plant Cell Rep., 19(3): 274-278.

Sajad Y,Jaskani MJ, Mehmod A, Ahmad I, Abas H (2013). Efect of colchicines on in vitro polyploidy induction in African marigold (Tagetes erecta). Pak. J. Bot., 45(3): 125- 58.

Sakhanokho HF., Rowena KRY, Islam-Faridi KN (2009). Induced polyploidy in diploid ornamental ginger (Hedychium muluense R. M. Smith) using colchicine and oryzalin. Hortscience, 44(7): 1809-1814.

Carine Simioni and Cacilda Borges do Valle (2009). Chromosome duplication in Brachiaria (A. Rich.) Stapf allows intraspecific crosses. Crop Breeding and Applied Biotechnology, 9: 328-334.

Dendranthema x Gradiflorum Ramat. Kitam. cv. YS by colchicine treatment of cultured shoot tips. J. Jpn Soc. Hortic. Sci., 65: 528-833. Murashige T. and Skoog F., (1962). A revised medium for rapid growth and bio-assays with tobacco tissue cultures. Physiologia Plantarum, 15: 473-497.

Pinheiro AA, Pozzobon MT, Valle CB, Penteado MIO, Caneiro VTC (2000). Duplication of the chromosome number of diploid Brachiaria brizantha plants using colchicine. Plant Cell Rep., 19(3): 274-278.

Sajad Y,Jaskani MJ, Mehmod A, Ahmad I, Abas H (2013). Efect of colchicines on in vitro polyploidy induction in African marigold (Tagetes erecta). Pak. J. Bot., 45(3): 125- 58.

Sakhanokho HF., Rowena KRY, Islam-Faridi KN (2009). Induced polyploidy in diploid ornamental ginger (Hedychium muluense R. M. Smith) using colchicine and oryzalin. Hortscience, 44(7): 1809-1814.

Carine Simioni and Cacilda Borges do Valle (2009). Chromosome duplication in Brachiaria (A. Rich.) Stapf allows intraspecific crosses. Crop Breeding and Applied Biotechnology, 9: 328-334.

Souza FF, Queiróz MA (2004). Avaliação de caracteres morfológicos úteis na identificação de plantas poliploides de melancia. Hort. Bras., 22(3): 516- 520.

Thao, N.T.P., K. Ureshino, I. Miyajima, Y. Ozaki, and H. Okubo (2003). Induction of tetraploids in ornamental Alocasia through colchicine and oryzalin treatments. Plant Cell Tiss. Org. Cult., 72: 19-25.

Vichiato MRM (2004). Indução de tetraploides e alongamento de plantas de Dendrobium nobili LINDL. (Orchidaceae). Thesis, Universidade Federal de Lavras, Lavras.

Xing SH, Xin-Bo G, Quan W, Qi-Fang P, Yue-Sheng T, Pin L, Jing-Ya Z, Guo-Feng W, Xiao-Fen S, Ke-Xuan T (2011). Induction and flow cytometry identification of tetraploids fromseed-derived explants through colchicine treatments in Catharanthus roseus (L.) G. Don. J. Biomed. Biotechnol., 1: 1-10.

Watrous, S.B. and Wiiber, D.E. (1988). Artificial induction of polyploidy in Paphiopedilum. Lmdleyana, 3: 177-183.

Facebook Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *