Sử dụng điện kích thích não bộ nhằm cải thiện tốc độ bộ nhớ của bạn

Cho dòng điện chạy qua não có thể tăng tốc độ học tập của bạn, nhưng kết quả không phải lúc nào cũng như ý. Nghiên cứu mới đây phát hiện ra rằng trạng thái tâm trí của bạn suốt quá trình chạy điện quyết định tới kết quả của quá trình

Tôi cho rằng đây là mộ trò đùa khi lần đầu tiên tôi nghe về chuyện cho dòng điện chạy qua não bộ có thể tăng tốc việc học.

Nhưng đã có bằng chứng ngày một thuyết phục về việc đó. Theo một số ít nghiên cứu, kích thích xuyên não trực tiếp (tDCS) vào não giúp tăng cường nhận thức: Bằng cách trực tiếp điều chỉnh điện trường của não, một số nghiên cứu đã phát hiện ra rằng tDCS tăng cường tính sáng tạo , tăng không gian đệm và tư duy toán học và thậm chí tiếp thu ngôn ngữ  – đôi khi điều đó xảy ra vài tuần sau liệu trình đầu tiên.

Đối với những người háo hức về việc có thể cải thiện tốc độ bộ não của mình, đây là một tin tốt. Nhiều diễn đàn  đã chia sẻ những lời khuyên và thủ thuật về cách tự kiểm tra kỹ thuật này, họ thường sử dụng các bộ kích thích tự lắp ráp bằng pin 9 volt.

Các nhà khoa học và những người đam mê nghiên cứu về não không phải là những người quan tâm duy nhất. Quân đội cũng mong muốn tài trợ các dự án liên quan đến kích thích não với hy vọng rằng công nghệ này một ngày nào đó có thể được sử dụng để giúp những người lính bị mất trí nhớ do thương tích trong chiến tranh.

Nhưng đây là cái chúng ta nhận được: kết quả cuối cùng không phải lúc nào cũng như ý muốn. Trong khi một số người thề rằng họ thấy những phản ứng tích cực trong não họ, thì những người khác lại không có gì ngoại trừ một vết bỏng khó chịu trên da do các điện cực.

Trong một phân tích meta trên 20 nghiên cứu , một nhóm nghiên cứu từ Úc đã phát hiện thấy tDCS không mang đến ảnh hưởng đáng kể nào cho bộ nhớ. Hiệu suất thấp tương tự cũng xuất hiện với các kỹ thuật kích thích não khác . Điều đó không có nghĩa là các kỹ thuật kích thích não không đem tới hiệu quả gì – nó dường như chỉ không có sự ổn định về hiệu suất khi tiến hành với nhiều cá thể khác nhau mà thôi. Vậy nó đem tới những điều gì?

Dường như thời gian là tất cả mọi thứ.

Khi những gì quá trình này đem lại là cực kỳ quan trọng

Tất cả chúng ta đều có những ngày thấy não rất nhạy bén và cũng có ngày xấu cảm thấy sương phù đang bủa vây lấy não mình. Điều này khiến các nhà khoa học tự hỏi: kích thích điện trực tiếp để điều chỉnh hoạt động của mạng lưới thần kinh trong não có thể làm cho cải thiện não khi nó nặng nề, nhưng ngược lại cũng có thể phá vỡ hoạt động của nó khi đã ở trạng thái tốt nhất?

Trong một nghiên cứu mới được công bố trong “Current Biology”, các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm ý tưởng sử dụng phương pháp kích thích não trực tiếp nhất – các điện cực được cấy vào trong não. So với tDCS khi cung cấp dòng điện qua các điện cực trên da đầu, những cấy ghép cho phép độ chính xác cao hơn nhiều trong việc kiểm soát vùng não nào kích thích cần nhắm tới.
Nhóm đã hợp tác với một nguồn tài nguyên quý giá: những bệnh nhân động kinh đã có điện cực cấy vào vùng hãi mã và các khu vực xung quanh. Những vùng não này rất quan trọng cho những ký ức về các trình tự, không gian và các sự kiện trong cuộc sống. Các điện cực phục vụ mục đích kép: cả hai đều ghi lại hoạt động của não và cung cấp các xung điện.

Các chấm màu xanh cho biết vị trí tổng thểcủa điện cực trong nghiên cứu mới của Đại học Pennsylvania; Chấm màu vàng (góc trên cùng bên phải) là điện cực dùng để kích thích bộ não nhằm tăng hiệu suất của bộ nhớ. Hình ảnh: Joel Stein và Youssef Ezzyat , CC BY-ND

Nhóm đã hợp tác với những bệnh nhân động kinh đã có điện cực cấy vào vùng đồi hải mã và các khu vực xung quanh. Những vùng não này rất quan trọng vì là nơi lưu trữ những ký ức về các trình tự thời gian, không gian và các sự kiện trong cuộc sống. Các điện cực phục vụ cho mục đích kép: ghi lại hoạt động của não và cung cấp các xung điện.

Các nhà nghiên cứu giám sát tổng thể hoạt động não ở 102 bệnh nhân động kinh khi họ ghi nhớ 25 danh sách của một tá các từ không liên quan gì với nhau và cố gắng nhớ lại sau đó.
Với mỗi từ, các nhà nghiên cứu đã tạo ra một cái máy ghi lại các dấu hiệu từ các hoạt động của não gọi là máy phân loại. Bằng cách này, đối với mỗi bệnh nhân, máy phân loại ghi lại được những hoạt động của não trước khi ghi nhớ thành công một từ và dự đoán tại sao khả năng nhớ lại lại thất bại. Bằng cách sử dụng phương pháp này, nhà khoa học đã phân loại một trạng thái não “sương mù” như là mô hình hoạt động của não khi không thể nhớ được từ đó, trong khi mô hình hoạt động trước khi nhớ lại thành công giống như cấu tạo của một quả bóng.

Tiếp theo, ¼ bệnh nhân mà máy phân loại thực hiện được, các nhà nghiên cứu đã theo dõi não họ khi họ ghi nhớ và nhớ lại một danh sách từ mới. Các nhà nghiên cứu kiểm soát bằng cách đo hiệu suất của bộ nhớ khi không có bất kỳ kích thích nào, và các bệnh nhân được hỏi liệu họ có thể biết được khi nào các điện cực có dòng điện chạy qua hay không (họ không thể).

Đây là những gì họ phát hiện được: khi quá trình kích thích một trạng thái não đang ở dạng sương mù, mức ghi nhớ của các bệnh nhân tăng lên đến 12-13 phần trăm so với bình thường. Nhưng nếu não họ đang hoạt động ở trạng thái tốt nhất, điều hoàn toàn ngược lại đã xảy ra. Khi đó, xung điện làm giảm hiệu suất từ ​​15 đến 20 phần trăm và làm gián đoạn hoạt động mã hoá của não – hoạt động tạo ra ký ức của não.

Đi xa hơn các kích thích ngẫu nhiên

Nghiên cứu này đặc biệt khác với những nghiên cứu trước đó. Thay vì kích thích não bừa bãi, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng trạng thái não ở thời điểm mã hóa bộ nhớ xác định liệu kích thích não có giúp cải thiện hay là ngược lại. Đó là một cái nhìn sâu sắc cho các nghiên cứu trong tương lai để cố gắng tìm hiểu những tác động của sự kích thích não bộ đểt ăng trí nhớ.

Thách thức lớn tiếp theo là kết hợp các phát hiện này vào các thử nghiệm kích thích não, tốt hơn là sử dụng các công nghệ không liên quan. Phát hiện được hoạt động của não trong khả năng nhớ lại là đầy hứa hẹn và được xây dựng dựa trên những nghiên cứu trước đây về việc liên kết trạng thái não với việc học thành công . Những nghiên cứu này có thể được tận dụng để giúp thiết kế một bộ kích thích não “thông minh”.

Ví dụ: hình ảnh một hệ thống vòng khép kín có một cái mũ chụp có gắn các điện cực để đo hoạt động của não bằng cách sử dụng EEG hoặc các phương pháp khác. Sau đó, dữ liệu đi đến một bộ phận kiểm soát để xác định trạng thái não. Khi bộ điều khiển phát hiện trạng thái hoạt động thấp, nó sẽ báo hiệu cho tDCS hoặc các bộ kích thích khác để tạo ra một xung điện kịp thời, nhờ đó thúc đẩy việc học mà không vô được đầu chút nào từ người dùng.

Tất nhiên, nhiều câu hỏi vẫn còn trước khi việc kích thích như vậy trở thành hiện thực. liều lượng và cường độ tối ưu của các xung điện tăng tốc việc học bao nhiêu là tốt nhất? Chúng ta nên đặt điện cực ở đâu? Còn những hậu quả không mong đợi thì sao? Một nghiên cứu trước đây cho thấy việc cải thiện tốc độ học tập có thể làm giảm khả năng tự học của người đó – khả năng người đó thành thạo một kỹ năng nào đó sau này. Còn những hệ quả ẩn chứa nào trong việc kích thích não bộ mà chúng ta chưa biết?

Tôi không chắc chắn là tôi có cảm thấy thoải mái với ý tưởng truyền xung điện vào não của tôi hay không. Nhưng nghiên cứu mới này và nhiều nghiên cứu khác chắc chắn sẽ khiến tôi tự tin hơn: nếu tôi định thực hiện điều gì đó để nâng cao khả năng nhớ của não tôi, tôi sẽ dựa trên dữ liệu nghiên cứu được chứ không phải chỉ là những lời đồn.

Hoài Thu
Theo Futurism

Facebook Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *