Uống rượu trong khi đang mang thai có thể gây ra những tác hại cho thai nhi

Tiếp xúc với Ethanol khi đang có thai có thể gây ra những biến đổi bất thường trong não và hành vi, điều đó có thể di truyền sang các thế hệ tiếp theo.

Figure 1 Uống rượu khi mang thai.
Credit: © vchalup / Fotolia

Sẽ sớm thôi các bà mẹ sẽ nghe được lời cảnh báo này – đừng uống rượu khi đang có thai. Các chuyên gia đã đưa ra vô số báo cáo về các nguy hiểm gặp phải khi têu thụ rượu trong giai đoạn thai kỳ, bởi vì điều đó có thể đưa đến hội chứng rối loạn nồng độ rượu ở thai nhi (FASD). Hiện nay, một nghiên cứu mới đã cho thấy rằng người mẹ uống rượu khi mang thai sẽ gây ra các biến đổi bất thường ở não và hành vi và biến đổi đó có thể di truyền qua nhiều thế hệ sau.

Các bà mẹ sẽ sớm nghe được lời cảnh báo – đừng uống rượu khi đang có thai. Các trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) đã đưa ra vô số báo cáo về các nguy hiểm có thể gặp phải khi tiêu thụ rượu trong giai đoạn thai kỳ, vì điều đó có thể đưa đến hội chứng Rối loạn nồng độ rượu ở thai nhi (FASD) khi được sinh ra.
Dù là vậy, rất nhiều phụ nữ đã uống rượu khi đang có thai, một lựa chọn mà theo sự hiểu biết qua nhiều năm của các nhà khoa học sẽ ảnh hưởng đến những đứa trẻ của họ. Ngày nay, có một lý do mới để các bà mẹ có thể đặt chai rượu xuống bàn – uống rượu khi đang mang thai không những ảnh hưởng tới đứa con chưa sinh của cô ta mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của não và có thể đưa đến những bất lợi đến cả đời cháu hoặc chắt của người phụ nữ.

Một nghiên cứu mới của Kelly Huffman, giáo sư tâm lý học tại đại học California, Riverside, với nhan đề là “Sự tiếp xúc với Ethanol trước sinh và Phát triển vỏ não: Một hình mẫu di truyền FASD”, được xuất bản trên tạp chí Cerebral Cortex

Theo sự hiểu biết thông thường, tiếp xúc ethanol trước khi sinh (PrEE) từ việc uống rượu của người mẹ, chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới con cái, phôi thai hoặc thai nhi trong tử cung. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta có bằng chứng cho thấy ảnh hưởng của việc tiếp xúc cồn trước khi sinh có thể di truyền và ảnh hưởng tiêu cực đến thế hệ tiếp theo dù thế hệ tiếp theo không bao giờ tiếp xúc với rượu “, Huffman nói.

Nghiên cứu trước đây từ phòng thí nghiệm Huffman ở UCR cho thấy rằng PrEE ảnh hưởng đến vỏ não, là bộ phận của não có trách nhiệm về hành vi và nhận thức phức tạp ở người, và Pree có thể dẫn đến hành vi vận động bất thường và làm tăng lo lắng cho trẻ em bị phơi nhiễm. Huffman và một nhóm sinh viên UCR đã mở rộng nghiên cứu này bằng cách cung cấp bằng chứng mạnh mẽ để cho thấy rằng tiếp xúc với ethanol tử cung tạo ra các hiệu ứng thần kinh và hành vi ở các thế hệ chuột tiếp theo không có tiếp xúc với ethanol.

Để xác định xem những bất thường trong não và hành vi từ việc tiếp xúc với ethanol trước khi sinh có di truyền hay không, Huffman đã tạo ra mô hình chuột mắc FASD và đã thử nghiệm nhiều khía cạnh của sự phát triển trí não và hành vi qua ba thế hệ. Như mong đợi, thế hệ đầu tiên là thế hệ con tiếp xúc trực tiếp, cho thấy biểu hiện gen không điển hình, sự phát triển bất thường của mạng lưới thần kinh trong vỏ não và sự thiếu hụt nhận thức hành vi. Tuy nhiên, khám phá chính của nghiên cứu nằm ở các thế hệ tiếp theo, không tiếp xúc trực tiếp. Những con vật này có các vấn đề phát triển thần kinh và hành vi tương tự như những con chuột trong thế hệ đầu tiên, tiếp xúc trực tiếp.

“Chúng tôi thấy rằng trọng lượng cơ thể và kích cỡ não đã giảm đáng kể trong tất cả các thế hệ động vật PrEE khi so sánh với nhóm đối chứng, tất cả các thế hệ chuột PrEE đều cho kết quả là biểu hiện những hành vi giống như lo lắng, trầm cảm và thiếu hụt cảm quan. Qua thí nghiệm phơi nhiễm ethanol trước khi sinh bằng mô hình chuột FASD, chúng tôi cho rằng FASD có thể là một bệnh di truyền ở người “, Huffman nói.

Phân tích xa hơn trong nghiên cứu này cho thấy việc tiêu thụ rượu trong khi mang thai dẫn tới một sự thay đổi hệ thống thần kinh mà cuối cùng ảnh hưởng đến hành vi thông qua các cơ chế có gây ra các hiệu ứng biến đổi di truyền. Bằng cách tìm hiểu được tác động của việc tiếp xúc ethanol trước khi sinh lên sự phát triển thần kinh và hành vi, các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu có thể bắt đầu tạo ra các phương pháp phòng ngừa và điều trị mới.

Hoài Thu
Theo SciencedailSciencedaily.com

Facebook Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *